Ninh Bình là vùng đất cổ hội tụ nhiều tầng văn hóa với chiều sâu lịch sử nhân loại và quốc gia dân tộc Việt Nam, nơi có vị trí địa chính trị, địa quân sự và địa văn hóa đặc biệt. Ninh Bình sở hữu hệ sinh thái di sản phức hợp bao gồm: di sản văn hóa, di sản định cư, cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học…
Qua các tư liệu n ghiên cứu về vị thế của kinh đô Thăng Long và các xứ/trấn thuộc châu thổ sông Hồng trong lịch sử, có thể thấy: Nếu lấy Thăng Long làm vùng lõi, trục tâm thì đất Kinh Kỳ xưa có 4 xứ: Kinh Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang) án ngữ mặt Bắc; xứ Sơn Nam (Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình,…) che chở mặt Nam; xứ Đông (Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh), bảo vệ miền Đông; và, xứ Đoài (Hà Đông, Sơn Tây, Vĩnh Phúc,…) án ngữ miền Tây của Kinh đô, nơi “tối thị hiểm yếu”. Trong tâm thức của nhiều triều đại, tiếp giáp với các xứ ấy là vùng ngoại trấn. Nhưng, Sơn Nam không phải và không bao giờ là một “vùng ngoại vi” cả về chính trị, kinh tế và văn hóa, với Không gian văn hóa Ninh Bình có tiềm năng to lớn nhờ Di sản Thế giới Quần thể Danh thắng Tràng An và vùng đất Hoa Lư lịch sử, mang giá trị độc đáo về văn hóa, lịch sử, sinh thái, gắn liền với du lịch, công nghiệp văn hóa; đặc trưng bởi sự giao thoa giữa Cố đô Đại La và vùng đất mới sau sáp nhập, hình thành bản sắc riêng, sinh thái hiện đại và giàu chiều sâu lịch sử, đang hướng tới thành trung tâm du lịch, văn hóa quốc gia.
Với cái nhìn đối sánh giữa các vùng miền, Ninh Bình nổi lên là một không gian tự nhiên, xã hội có nhiều giá trị đặc hữu. Đó là vùng chuyển giao giữa các không gian lãnh thổ, là minh chứng sinh động cho sự vận động của thế giới tự nhiên; của địa chất, địa mạo và cũng là không gian kết nối giữa vùng núi cao với biển cả. Không gian tự nhiên của ba tỉnh có đủ đầy cả bốn hệ sinh thái: Núi rừng, Châu thổ (Nước ngọt), Duyên hải (Nước lợ) và Biển cả (Nước mặn). Nhờ có hệ sinh thái đa dạng đó mà vùng Sơn Nam xưa sớm là điểm đến, địa bàn sinh tụ của các tộc người cổ.
Từ đầu thế kỷ XV, trong tầm nhìn chiến lược về vị thế chính trị, ngoại giao của Sơn Nam, Danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi từng nhận xét: “Nông Kỳ, Đội, Điệp ở về Sơn Nam. Nông Kỳ là tên sông. Đội, Điệp là tên hai núi, triều Lý làm cung ở hai núi ấy, để làm nơi tuần hạnh, triều hội. Sơn Nam là quận Giao Chỉ xưa; đông và bắc thông với Hải Dương, Thượng Kinh, tây và nam thông với Sơn Tây, Thanh Hóa. Đấy là trấn thứ ba trong bốn kinh trấn và đứng đầu phên dậu phía nam. Có 9 lộ phủ, 36 huyện, 2.059 xã”[1].
Về các nguồn tài nguyên của Sơn Nam, Ức Trai cũng cho biết: “Ở vùng ấy, đất thì đỏ, dính màu mỡ cùng sắc xanh đen; ruộng thì vào hạng thượng thượng”.
Ninh Bình là vùng đất cổ, đa diện về sắc thái văn hóa. Trên địa bàn tỉnh đã phát hiện được nhiều di tích, di vật của thời tiền sử kéo dài cho tới các giai đoạn lịch sử về sau.
Trong quá trình phát triển, tuy chịu nhiều ảnh hưởng của trung tâm/vòng xoáy văn hóa Thăng Long, nhưng Sơn Nam vẫn là không gian văn hóa riêng, có trữ lượng phong phú, chiều sâu và nhiều giá trị đặc sắc. Đặt trong mối quan hệ với kinh đô Thăng Long, dựa trên cách tiếp cận, lý thuyết địa – văn hóa, GS.Trần Quốc Vượng từng cho rằng: Sau khi xác lập quan hệ giữa kinh thành Thăng Long (1010) với bốn phương: Đông (Nam Hà), Bắc (Kinh Bắc – Hà Bắc), Đoài (Sơn Tây – Vĩnh Phú), Sơn Nam đã trở thành một trong Tứ Trấn phên giậu của Kinh Kỳ.
Là một gia tộc lớn, có tính di biến động xã hội cao, uy danh của vương triều Trần đã sớm lan tỏa đến nhiều vùng miền đất nước. Trong bối cảnh chính trị Đông Nam Á thời bấy giờ, sau ba lần giành được thắng lợi trước hiểm họa của đế chế Mông – Nguyên (1258, 1285 và 1287-1288), nhiều nước khu vực cũng đã hướng về kinh đô Thăng Long. Quốc gia Đại Việt thời Trần nổi lên như một đất nước cường thịnh, giàu tiềm năng kinh tế và truyền thống văn hiến[2]. Thời điểm đó từ Hành Cung Vũ Lâm nới liền theo đường sông về Phủ Thiên Trường không chỉ là một trung tâm chính trị quan trọng mà còn là trung tâm văn hóa, tôn giáo hàng đầu đất nước. Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308) và các vị Pháp Loa (1284-1330), Huyền Quang (1254-1334) đã tiến hành hoằng dương Phật pháp và cho kiến dựng nhiều công trình kiến trúc tôn giáo ở Thiên Trường (Nam Định), Hải Dương (Hải Phòng), Bắc Giang (Bắc Ninh) và nhiều địa phương.
Khảo cứu các nguồn sử liệu chúng ta cũng thấy, tuy có sự “dịch chuyển” về Thăng Long, nắm giữ quyền lực chính trị đất nước, nhưng những người đứng đầu triều Trần luôn dành nhiều sự quan tâm đến quê hương, dòng họ. Hoạt động của hành cung Tức Mặc được vận hành theo thể thức của hoàng cung Thăng Long. Không gian hành cung được tổ chức, quy hoạch, vận hành theo một cấu trúc chặt chẽ. Ở Tức Mặc – Thiên Trường, cùng với cung Trùng Quang (dành cho Thái Thượng hoàng) còn có cung Trùng Hoa (cho vua đương nhiệm, nối ngôi). Các công trình kiến trúc dành cho giới quý tộc, quan lại khi về yết kiến Thái Thượng hoàng, bàn định việc nước.
Với Ninh Bình, dấu ấn cổ xưa của một không gian cư trú của các tộc người cổ đã được phát hiện. Hoa Lư – Trường Yên cũng là đất phát tích của ba vương triều đầu tiên trong kỷ nguyên độc lập: Đinh (968-980), Tiền Lê (980-1009) và triều Lý (1010-1225). Hoa Lư – Trường Yên không chỉ là nơi có nhiều di sản thiên nhiên, văn hóa nổi tiếng, với giá trị nổi bật toàn cầu, mà còn là “chứng nhân” lịch sử, ghi dấu những chiến công, biến chuyển quan trọng của đất nước. Đặt không gian lịch sử chính trị – kinh tế này trong mối liên hệ so sánh, đặc biệt là xem xét vị trí của tỉnh trong thế chuyển giao vùng và liên vùng, có thể thấy rõ vị trí chiến lược, tiềm năng và các mối quan hệ kinh tế của Hoa Lư – Trường Yên – Ninh Bình trong tiến trình lịch sử dân tộc.
Về hình thế của Ninh Bình, các sử gia triều Nguyễn cho rằng: “Phía đông nam đến biển, phía tây bắc dựa núi, địa hình một nửa hiểm trở một nửa bằng phẳng; danh sơn có núi Hộ Thành, núi Địch Lộng, đại giang có sông Thanh Quyết, sông Thần Phù. Phủ Yên Khánh tiếp giáp Hà Nội và Nam Định, đường thủy và đường bộ sát liền nhau. Cầu chợ Vân Sàng, thuyền xe tụ tập, có tiếng là phồn thịnh. Phía Nam đi vào Thanh Hóa thì có núi Tam Điệp, con đường đi lại phải qua, thật là cổ họng giữa Nam và Bắc. Phủ Nho Quan ở về thượng du, giáp với 4 tỉnh Thanh Hóa, Hà Nội, Sơn Tây và Hưng Hóa, rừng núi um tùm, đường sá hiểm trở, chiếm một vị trí rất xung yếu”. Viết về đồn Lãng Phong (xã Lãng Phong, huyện Phụng Hóa), Thượng thư Bộ binh triều Nguyễn là Lê Quang Định cho rằng: “Đây là vùng địa thế rất xung yếu nên từ thời tiền triều đã cho đặt đồn đạo Trường Chi, Trường An ở đây. Ngày nay thì lập đồn phủ Thiên Quan để canh phòng cho địa giới cả ba huyện Phụng Hóa, An Hóa và Lạc Thổ”.
Thời gian qua, nhiều giá trị văn hóa vùng châu thổ đã được các tỉnh khai thác, phát huy vì các mục tiêu phát triển xanh, bền vững. Trong kho tàng di sản văn hóa phong phú của ba tỉnh xưa, Ninh Bình nay thấy nổi lên thế mạnh của một dải văn hóa vùng trọng trấn, cửa ngõ phía Đông Nam của kinh đô Thăng Long – Hà Nội, của một không gian văn hóa đa dạng, giữ vị trí chuyển giao giữa: Núi đồi – Châu thổ – Duyên hải và Biển cả. Văn hóa ba tỉnh còn là sự hội kết những giá trị độc đáo trong thế giới tâm linh của cư dân từ Núi Tản – sông Hồng – sông Thái Bình đến sông Đáy – Châu Giang, Hoàng Giang… với các cửa lớn hướng ra biển. Trong đời sống tư tưởng, tôn giáo, tâm linh có cả sự hòa luyện của: Nho – Phật – Đạo và truyền thống Văn hóa dân gian, phong phú, đặc sắc…
Với đặc điểm, điều kiện dân cư, điều kiện về nguồn nhân lực dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng lớn. Người lao động có trình độ văn hóa, kỹ năng; truyền thống lao động, sản xuất phong phú. Chất lượng lao động vào loại dẫn đầu cả nước. Đô thị, thành phố được hình thành từ lâu đời, có nhiều di tích lịch sử văn hóa, lễ hội, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế du lịch.
Tổng hợp tin bài: Phạm Sinh Khánh – Nguyễn Vân
[1] Nguyễn Trãi: Dư địa chí (Nguyễn Trãi toàn tập, tân biên), Tập 2, Nxb. Văn học – Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, H., 2001, tr. 462.
[2] Lê Quy Đôn: Kiến văn tiểu lục, Nxb. Khoa học Xã hội, H., 1977, tr.56-57.

