Ứng dụng khoa học công nghệ trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị của di tích Cố đô Hoa Lư

UNESCO dựa vào 3 tiêu chí cơ bản gồm Văn hóa (Tiêu chí V), vẻ đẹp thẩm mĩ (Tiêu chí VII), và địa chất địa mạo (Tiêu chí VIII) để vinh danh giá trị nổi bật toàn cầu Quần thể danh thắng Tràng An – di sản hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam.

Giá trị của di tích Quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư đã có vai trò lớn lao góp phần vào giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản.

Trong hồ sơ Quần thể danh thắng Tràng An, khu vực Cố đô Hoa Lư được nhắc đến như một phần không thể tách rời của Quần thể danh thắng Tràng An, một khu vực có cảnh quan địa chất, địa mạo khá đặc trưng, nơi giao thoa giữa những tháp núi đá vôi độc lập (núi lẻ) (như núi Chợ, núi Chẽ, núi Cột Cờ, núi Thanh Lâu) và những dãy núi có sống núi sắc mảnh, kéo dài (dãy núi Mã Yên, dãy núi Mồng Mang…) mà con người đã khéo làm nên những tuyến tường thành nhân tạo khép lại thành những thung lũng lớn, xây dựng phần trung tâm Cố đô Hoa Lư là một đỉnh cao trong lịch sử định cư của nhân loại nơi đây.

Các nhà khảo cổ đã phát hiện trên 30 di tích khảo cổ thời tiền sử ở trong khu di sản và từ hàng loạt các di tích, di vật thời đại kim khí, các di tích, di vật thời kỳ dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt xuất hiện trong phạm vi và vùng liền kề với không gian kinh đô Hoa Lư xưa khẳng định vùng đất này luôn được loài người sử dụng làm nơi định cư đã minh chứng khả năng thích ứng của con người Việt cổ trước những biến đổi của môi trường thiên nhiên để phát triển và tạo dựng nền văn hóa Tràng An.

Thời tiền sử, Người Việt cổ ở khu vực Tràng An, thuở ban đầu họ sinh sống trong các hang động núi đá. Họ thường chọn các hang đá, hái lượm, khai thác thức ăn từ các môi trường trên cạn, đầm lầy, cửa sông và bờ biển khi nước biển rút – biển thoái khoảng 4000 năm cách ngày nay. Giai đoạn sau này, người Việt Cổ Tràng An cư trú ngoài trời kiếm sống sâu vào vùng lõi khu di sản thông qua sông Sào Khê, sông Đền Vối, sông Ngô Đồng đều chảy qua trong lòng khu di sản và họ kiếm sống về phía biển thông qua sông Hoàng Long, sông Đáy. Công cuộc di cư và cùng với những tiến bộ trong chế tác công cụ như làm đồ gồm, đồ kim khí để khai thác đầm lầy, mở mang đất đai, trồng trọt, chăn nuôi, khai thác, nuôi trồng thủy sản… vùng đất này ngày càng mở rộng, dân cư đến quần tụ ngày một đông, họ đã hình thành một cộng đồng gắn bó, hợp sức nhau lại, cùng nhau xây dựng bản làng để sinh tồn và phát triển. Để rồi đến thế kỷ X có kinh đô Hoa Lư làm tiền đề để phát triển văn minh Đại Việt – Thăng Long, Hà Nội.

Những thành tựu mà các thế hệ người Việt Cổ Tràng An đã đạt được là kết quả minh chứng khả năng thích ứng của con người ở nơi đây trước những biến động vô cùng lớn của môi trường thiên nhiên qua các lần biển tiến, biển thoái trong suốt hàng vạn năm lịch sử để phát triển và tạo dựng nền văn hóa Tràng An.

Nét đặc thù của tự nhiên Tràng An và khả năng thích ứng của con người ở nơi đây là tiền đề quan trọng cho sự ra đời của nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên ở Việt Nam vào thế kỷ X. Ở thung lũng mở Hoa Lư, nhà Đinh và Tiền Lê được người dân nước Việt tận dụng sự hiểm trở của địa hình kart Tràng An, đắp thành nối các quả núi, tạo nên hệ thống thành lũy, khép kín thung lũng, xây dựng kinh đô Hoa Lư, khai khẩn thung lũng lầy trũng thành các khu trại kinh tế, luyện tập quân sự, tích lũy lương thảo, phòng vệ khi có chiến tranh. Đây chính là một trong những biểu hiện tiếp nối truyền thống thích ứng của người Việt Cổ.

Sự ra đời của nhà nước phong kiến tập quyền ở khu di sản là một cột mốc quan trọng đánh dấu sự kết thúc của nghìn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc của dân tộc Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên độc lập, tự chủ xây dựng đất nước. Các triều đại phong kiến tiếp theo như Lý, Trần, Lê, Mạc, Nguyễn đã tiếp nối truyền thống văn hiến nơi đây, để lại nhiều dấu ấn văn hóa đặc sắc ở Tràng An. Đây là hợp phần di sản gắn với sự phát triển của lịch sử dân tộc.

Di tích Cố đô Hoa Lư là một phần không thể tách rời của Quần thể danh thắng Tràng An. Vai trò của kinh đô/ Cố đô Hoa Lư của người Việt Cổ và không gian cư trú của các cụm cư dân trong vùng lõi khu di sản và liền kề các di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật – dấu ấn của Cố đô qua hơn 1000 năm với tư cách là di tích quốc gia đặc biệt đã có giá trị, vai trò lớn lao góp phần tạo nên giá trị nổi bật toàn cầu của di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Quần thể danh thắng Tràng An.

Trong phạm vi của Hội thảo này, bài viết chỉ đề cập ở phạm vị nhỏ của di sản thế giới Tràng An là khu di tích Cố đô Hoa Lư. Để Cố đô Hoa Lư nói riêng và Di sản thế giới Tràng An nói chung ngày một thêm đẹp, ngày một hấp dẫn, thành điểm đến của du lịch trong nước và quốc tế, tôi xin đưa ra một số nội dung ứng dụng khoa học công nghệ vào bảo vệ và phát huy giá trị di tích Cố đô Hoa Lư.

Trong giai đoạn hiện nay, chuyển đổi số và tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản Cố đô Hoa Lư là hết sức cần thiết. Đây chính là cầu nối đưa di tích, di sản đến gần hơn với cộng đồng, đóng góp tích cực vào quá trình bảo vệ, phát huy giá trị di tích, đưa di sản trở thành sản phẩm du lịch, phát triển kinh tế xã hội và góp phần quảng bá hình ảnh của di sản tới người dân và du khách.

Ứng dụng khoa học công nghệ vào bảo vệ, phát huy di tích Cố đô Hoa Lư bao gồm các nội dung cụ thể sau:

– Ứng dụng phần mềm Module quản lý di tích: Đối với chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm bảo tồn DTLSVH Cố đô Hoa Lư, phần mềm sử dụng quản trị gồm những Module như: quản lý giới thiệu các di tích trong khu di tích; quản lý văn bản; quản lý di vật, hiện vật gốc, công trình kiến trúc di tích; quản lý nhân sự khu di tích, quản lý tra cứu hồ sơ tài liệu… trên cơ sở hoạt động quản lý có thể sử dụng các kỹ thuật xây dựng phần mềm và ứng dụng có khả năng quản trị tập trung, cung cấp giao diện quản trị thân thiện, đảm bảo luôn theo dõi được hiệu suất, hoạt động của hệ thống, các cảnh báo và thông báo để người quản trị vận hành có phản ứng kịp thời và phù hợp, bảo mật dữ liệu, phân quyền sử dụng, truy cập hệ thống ứng dụng… tương thích với hạ tầng kỹ thuật hiện có.

– Ứng dụng công nghệ Lidar, Round Radar xác định các vị trí cần khai quật khảo cổ học. Kinh đô Hoa Lư tồn tại 42 năm qua các triều đại nhà Đinh (968-979), triều Tiền Lê (980-1010) và đầu triều Lý, trải qua hơn 1000 năm lịch sử, nhiều công trình kiến trúc đã bị phá hủy, san phẳng bởi các điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như thiên tai, bão lụt. Hầu hết dấu tích kinh đô Hoa Lư xưa còn đang nằm dưới lòng đất. Do vậy, trong nghiên cứu hiện trường di tích Cố đô Hoa Lư có thể ứng dụng những công nghệ Lidar, Round Radar để phục vụ cho việc tiến hành các hoạt động khai quật khảo cổ học.

+ Lidar là một phương pháp khảo sát, đo khoảng cách tới mục tiêu bằng cách chiếu sáng mục tiêu đó bằng một tia laze xung quanh và đo các xung phản xạ bằng một cảm biến. Sự khác biệt về thời gian và bước sóng laser sau đó có thể được sử dụng tạo mô hình số 3 chiều (3D) của đối tượng. Công nghệ Lidar thường được sử dụng để tạo bản đồ có độ phân giải cao với các ứng dụng trên trắc địa, địa lý, địa chất, địa mạo, khảo cổ học… Khi ứng dụng nghiên cứu khu di tích Cố đô Hoa Lư, thuận lợi của ứng dụng là sử dụng những máy bay chụp dạng không ảnh từ trên cao, chụp chi tiết trên địa hình diện rộng sẽ cho phép các nhà nghiên cứu nhìn được cảnh quan tổng thể của di tích ở thời điểm hiện tại. Những dấu hiệu nổi bật như những đoạn tường thành nhân tạo và thiên tạo, những dòng chảy cổ đã bị bồi lấp… có thể đọc được các khu vực phân bổ công trình kiến trúc và xác định mặt bằng tổng thể của kiến trúc, các vị trí cần khai quật khảo cổ học.

+ Round Radar là một phương pháp của đại vật lý thăm dò, thực hiện phát xung sóng điện từ vào môi trường đất đá. Khi gặp ranh giới các khối có hằng số điện môi khác nhau, sẽ xảy ra hiện tượng phản xạ một phần sóng. Thu nhận sóng tại các địa điểm quan sát xác định và xử lý phân tích được các ranh giới đó. Ứng dụng trong khảo cổ được sử dụng bằng một máy kéo trên đất dễ di chuyển trên một không gian diện tích như khu vực cánh đồng bằng phẳng giữa hai đền vua Đinh và vua Lê, khu vực sân lễ hội của khu di tích Cố đô Hoa Lư để tạo các kết quả sóng từ của ứng dụng dẫn đến kết quả xác định các vị trí cần khai quật khảo cổ học ở khu di tích.

– Ứng dụng công nghệ 3D, Hologram quảng bá, hỗ trợ, thuyết minh di tích: Ứng dụng công nghệ số để quảng bá, hỗ trợ, thuyết minh di tích nhằm giúp du khách trải nghiệm trực quan sinh động về di tích Cố đô Hoa Lư như ứng dụng thực tại ảo tăng cường (công nghệ tương tác 3D) để hỗ trợ trưng bày các hiện vật gốc có nguy cơ dễ bị hư hại ở di tích. Công nghệ này không chỉ cho phép bổ sung thêm các thông tin khác nhau như văn bản, hình ảnh, âm thanh, video cho mỗi loại hiện vật mà còn có thể bổ sung thêm các hiện vật ảo vào trong không gian trưng bày thật tại khu vực nhà trưng bày “di sản văn hóa thời Đinh – Tiền Lê” phục vụ công tác trưng bày và quảng bá giá trị di tích, di sản cho du khách. Cùng với đó đầu tư xây dựng, lắp đặt hệ thống kỹ thuật số ứng dụng công nghệ Hologram và âm thanh đa chiều để thuyết minh về con người, vùng đất và truyền thống văn hóa cũng như toàn cảnh khu di tích Cố đô Hoa Lư. Công nghệ này sẽ đem đến cho khách thăm quan góc nhìn 3 chiều với hình ảnh sống động, tăng cường sự tương tác giữa người xem với kịch bản thuyết minh. Cụ thể ở khu vực nhà trưng bày “di sản văn hóa thời Đinh – Tiền Lê” phối cảnh 3D thực hiện là giải pháp xen cài tư liệu và di vật. Trong đó di vật được xem là chủ thể và tư liệu là thành phần trưng bày. Mỗi di vật, tư liệu và mô hình sa bàn trưng bày ở đây cần được gắn với những câu chuyện kể về lịch sử, văn hóa thời Đinh – Tiền Lê. Phối cảnh 3D sử dụng thủ pháp ánh sáng, trình chiếu công nghệ Mapping trên sa bàn, trình chiếu Media trên tường. Nội dung chính là giới thiệu di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Cố đô Hoa Lư. Phối cảnh 3D được ứng dụng không chỉ đáp ứng được mục tiêu trưng bày, bảo vệ và phát huy giá trị di tích mà còn làm thay đổi phương pháp quảng bá hình ảnh du lịch, nâng tầm giá trị của di tích. Việc đẩy mạnh sử dụng hình thức chiếu phối cảnh 3D sẽ tạo cảm xúc ấn tượng, hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế khi đến tham quan Cố đô Hoa Lư.

– Ứng dụng công nghệ QR thuyết minh tự động tại khu di tích: Thuyết minh tự động không chỉ giảm áp lực cho người thuyết minh, giới thiệu mà còn đem đến những trải nghiệm cho khách tham quan tìm hiểu chuyên sâu về di tích. Hình thức này còn có thể tích hợp nội dung giới thiệu về di tích thông qua các thiết bị cá nhân di động, hỗ trợ hoặc thay thế việc cho người thuyết minh trực tiếp giới thiệu cho khách thăm quan.

Hiện nay đội ngũ trực tiếp làm nhiệm vụ hướng dẫn – thuyết minh phục vụ khách thăm quan tại di tích do Trung tâm bảo tồn DTLSVH Cố đô Hoa Lư đảm nhận có 10 người. Trong số hướng dẫn viên – thuyết minh có trình độ ngoại ngữ còn ít. Thực tế trong những năm qua công tác thuyết minh ở di tích vẫn còn có những bât cập trong việc đáp ứng nhu cầu của khách tham quan, nghiên cứu. Một trong những nguyên nhân khách được phục vụ tại chỗ còn khiêm tốn do hạn chế số lượng hướng dẫn viên nhất là hướng dẫn viên – thuyết minh ngoại ngữ. Khi công nghệ QR thuyết minh tự động được đưa vào ứng dụng tại di tích, vấn đề trên có nhiều cơ hội được giải quyết. Triển khai ứng dụng công nghệ QR được đánh giá cao ở khả năng giải quyết, bổ sung cho công tác truyền thông, thuyết minh truyền thống, đồng thời đảm bảo việc quản lý, khai thác, vận hành chất lượng hơn. Trước mắt thuyết minh tự động ở khu di tích cần được đẩy mạnh ở 2 điểm thăm quan là đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và đền thờ vua Lê Đại Hành; việc ứng dụng công nghệ QR vào di tích hoàn toàn không xung đột và ảnh hưởng đến mô hình hướng dẫn, thuyết minh truyền thống đang được tổ chức tại di tích Cố đô Hoa Lư. Nội dung thuyết minh tự động được xây dựng cần được đảm bảo tính chính xác về giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật của di tích. Ngoài tiếng Việt, những nội dung thuyết minh được chuyển dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau như: tiếng Anh, Pháp, Nhật… để phục vụ du khách trong nước và quốc tế.

– Ứng dụng công nghệ in 3D bảo tồn những yếu tố cấu thành di tích: Đối với những hiện vật gốc ở di tích thì ngoài việc xử lý hóa chất hoặc áp dụng kỹ thuật truyền thống để bảo quản khỏi sự tác động của môi trường, khí hậu, con người thì việc ứng dụng công nghệ in 3D tạo ra các bản sao từ hiện vật gốc để trưng bày cần được quan tâm. Hiện nay Trung tâm bảo tồn DTLSVH Cố đô Hoa Lư đang lưu giữ khoảng 50 sắc phong qua các triều đại phong kiến Việt Nam. Những hiện vật quý này được bảo quản cẩn thận trong kho lưu trữ và rất ít khi được trưng bày cho khách thăm quan. Với việc ứng dụng công nghệ in 3D, du khách có thể chiêm ngưỡng các DSVH phi vật thể này một cách chi tiết. Đối với các cấu kiện như ngói, gạch lát nền, phù điêu, hoa văn, họa tiết… tại di tích có thể sử dụng công nghệ in 3D tạo khuôn đúc theo bản gốc để thay thế trong quá trình tu bổ, phục dựng tại di tích Cố đô Hoa Lư.

– Ứng dụng khoa học công nghệ trong đảm bảo an ninh trật tự tại di tích: Camera an ninh hay còn gọi là camera giám sát an ninh là thiết bị điện tử dùng để giám sát và đảm bảo sự an toàn trong khu vực nhất định nào đó tùy theo nhu cầu sử dụng, vị trí lắp đặt. Camera thường được kết nối với một hệ thống ghi hình hoặc máy chủ để lưu trữ và xem lại các thông tin được ghi lại. Camera an ninh có thể được thiết kế để theo dõi trong thời gian thực hoặc để lưu trữ các hình ảnh, âm thanh và báo cáo về các sự kiện sau này. Việc tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, đẩy mạnh việc lắp đặt hệ thống camera nhằm đảm bảo an ninh trật tự cho di tích là rất cần thiết. Hiện tại, ở di tích đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và đền thờ vua Lê Đại Hành hệ thống camera mới có 14 mắt được lắp đặt trong khu nội tự của hai đền và 1 mắt được lắp tại nhà trưng bày “di sản văn hóa thời Đinh – Tiền Lê”; còn các vị trí khác xung quanh di tích chưa có hệ thống camera. Do vậy cần tiếp tục đầu tư lắp đặt hệ thống camera ở các khu vực của di tích như: nhà bia tưởng niệm vua Lý Thái Tổ; đoạn đường đi từ cầu Hội và cống Chẹm vào đền vua Đinh, vua Lê; khuôn viên xung quanh hai ngôi đền vua Đinh, vua Lê; bổ sung lắp đặt thêm mắt camera tại nhà trưng bày. Tiến tới lắp đặt hệ thống camera ở toàn bộ các di tích trong di tích quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư. Với hệ thống camera an ninh được lắp đặt đầy đủ tại các điểm di tích sẽ góp phần tăng cường giám sát, hỗ trợ cho việc phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm, góp phần đảm bảo an ninh trật tự, an toàn trong khu di tích.

Hiện nay, tỉnh Ninh Bình đang triển khai các nhiệm vụ, giải pháp hướng tới xây dựng Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc trung ương với đặc trưng là đô thị di sản thiên niên kỷ, thành phố sáng tạo vào năm 2035; một trong những trung tâm lớn, có giá trị thương hiệu cao về du lịch, công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản của cả nước và khu vực Đông Nam Á. Việc ứng dụng công nghệ trong công tác bảo vệ và phát huy giá trị di tích Cố đô Hoa Lư sẽ hứa hẹn mở ra những không gian mới để có thể tiếp tục khai thác di sản một cách hiệu quả và bền vững.

Nguyễn Đức Long

Nguyễn Thị Vân

Hội di sản văn hóa tỉnh Ninh Bình