Đền thờ công chúa nước Lào (còn gọi là đền Thượng Thái Sơn) thờ công chúa với danh xưng Nhồi Hoa công chúa. Đền nằm trên đỉnh đồi Đền thuộc di tích Đền Thượng, đền Hạ, tọa lạc tại Tổ dân phố Thái Sơn, phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
Nơi đây là vùng đất cổ: Thế kỷ X, nơi đây là cửa ngõ phía Tây của “Hoa Lư tứ trấn”, thời nhà Trần (năm 1226), vùng đất này thuộc trấn Thiên Quan. Thời Hậu Lê, Sơn Lai thuộc phủ Thiên Quan, xứ Thanh Hóa. Đặc biệt “Năm thứ hai niên hiệu Thuận Thành Hồ Hán Thương (năm Nhâm Ngọ, tức năm 1402), tháng ba, con đường từ Tây Đô (tức Thanh Hóa) đến Hóa Châu được sửa sang xây đắp lại, dọc đường cho đến phố xá có thể truyền thư tín, nên gọi là đường Thiên Lý”[1] Thái Sơn – Sơn Lai (cũ) nằm trên trục đường Thượng đạo này.
Trong thời kỳ chống giặc phương Bắc, người anh em Lào đã đoàn kết hết lòng giúp đỡ, ủng hộ nước ta. Theo Đại Việt sử ký toàn thư: “…năm Tân Mão năm thứ 2 (1471) (Minh Thành Hóa thứ 7)… Thổ quan phủ Trấn Ninh là Cầm Công sai đầu mục sang chầu và biếu sản vật. Thổ quan châu Thuận Bình là hội đạo nhị cùng đến. Bấy giờ vua về đến Thuận Hóa, tri châu là đạo Nhị và em là đạo Đồng cùng bộ lạc hơn 100 người đem voi đến biếu tặng…”
Theo truyền thuyết tại địa phương và tài liệu hiện còn tại di tích cho thấy đền Thượng thờ công chúa nước Lào là Nhồi Hoa. Dưới thời Vua Lê Thánh Tông (hiệu Hồng Đức (1460-1497)), Bà được vua cha giao trách nhiệm đưa sang và huấn luyện một đàn voi cho Đại Việt. Khi giao xong đàn voi, trên đường trở về không may công chúa bị lâm bệnh. Binh lính đi theo phải hạ trại, đóng hai đồn thành dinh lũy tại đồi Đền và đồi Đập lo thuốc thang cho bà. Sau một thời gian điều trị, công chúa được các thái y chăm sóc thuốc thang, hết lòng cứu chữa nhưng bệnh tình không thuyên giảm, công chúa qua đời tại trại đóng trên đồi Đền. Sứ giả báo về triều đình Đại Việt, vua Lê Thánh Tông cho quân thần về làm lễ, an táng tại khu vực đồi Đền, xây khu lăng mộ và cho lập đền thờ công chúa ngay tại đó. Sau đó, nhà vua cho người sang nước Lào báo tin. Triều đình Lào liền chạm ảnh công chúa trên gỗ và đưa sang nơi Bà mất làm lễ viếng đồng thời cũng là để lưu niệm tình đoàn kết giữa hai nước Việt – Lào. Truyền thuyết này rất hợp với lịch sử thời bấy giờ.
Đền Thượng Thái Sơn tọa lạc trên đỉnh đồi Đền giữa không gian làng quê yên bình với núi đồi hùng vĩ: Phía Tây là lăng mộ công chúa, phía Nam là núi Hóe Vụng, phía Đông là núi Mỏ Phượng, phía Bắc là núi Chon Gà. Đền quay hướng Nam, được xây dựng vào thời Hậu Lê và đã được trùng tu nhiều lần, hiện nay di tích gồm 3 tòa, tòa Trung Đường và Hậu cung còn giữ nguyên vẹn kiến trúc “Tiền đao Hậu đấu”, lợp ngói vẩy, cửa được làm theo lối chân quay, then cài, bậc cửa bằng gỗ cao 30cm. Đỡ mãi bằng hệ thống 4 cột cái và 12 cột quân đều bằng gỗ lim, các mảng chạm khắc mộc hóa long, hóa văn lá lật tại ván mê, câu đầu còn nguyên bản thời Nguyễn.
Ngoài ra di tích còn lưu giữ được ban thờ có ảnh công chúa chạm trên gỗ cùng nhiều đồ thờ tự có giá trị, đặc biệt là 04 sắc phong triều Nguyễn, trong đó có sắc phong vào ngày 12 tháng 1 năm Tự Đức thứ 6 (1852) phong cho bà mỹ tự “Linh Quang Huyền Cảm Diễm Quyên Nhàn Uyển chi thần”. Sắc phong ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924) Bà được phong là Thượng đẳng thần.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đền Thượng trở thành nơi chế tác vũ khí cho chiến trường, nơi đóng quân của trường Quân chính quân khu 3, là địa điểm hoạt động của Ban Kinh tế, tỉnh đội Ninh Bình, là nơi tập trung đưa tiễn con em Thái Sơn vào chiến trường Miền Nam.[2]
Lễ hội đền Thượng, đền Hạ được chính quyền địa phương và nhân dân tổ chức hàng năm vào ngày giỗ Nhồi Hoa Công chúa (3/3 âm lịch). Vào ngày này, dân làng tập trung tế tự, đội tế nữ quan tổ chức tại đền Thượng, sau các nghi thức tễ lễ, nhân dân tổ chức múa Lăm Vông (điệu múa đặc trưng của người Lào) để hầu thánh thần. Hình thức diễn xướng này được nhân dân duy trì từ lâu, với nhiều sắc thái đặc sắc, có sự tham gia của đông đảo người dân trong làng. Những năm gần đây, được sự giúp đỡ của các bạn Lào, trang phục diễn và hình thức múa hát ngày càng hoàn thiện hơn. Bên cạnh đó còn có các trò chơi mang đậm bản sắc dân tộc như chơi đu, đánh cờ, kéo co, đánh tổ tôm, múa hát.
Lễ hội thu hút đông đảo đại biểu người Lào và người Việt Nam gắn bó với nước Lào tham dự, như đại biểu Đại sứ quán nước CHDCND Lào tại Việt Nam, người Lào đang sinh sống, làm việc, học tập tại Việt Nam, Ban liên lạc bộ đội Việt Nam tại chiến trường Lào… Đền thờ Công chúa Lào ở Ninh Bình đã trở thành địa chỉ đỏ, nơi đón nhiều Đoàn Lãnh đạo, cán bộ Đảng và Nhà nước, các chuyên gia, nhà khoa học, các địa phương ở Lào đến chiêm bái, dâng hương khi sang thăm và làm việc tại Việt Nam.
Với giá trị đặc biệt đó, Đền Thượng, đền Hạ đã được UBND tỉnh Ninh Bình xếp hạng là Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh năm 2007; xây dựng hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam xếp hạng di tích cấp Quốc gia; Di tích luôn được chính quyền, nhân dân trong vùng trông coi, bảo vệ, trùng tu tôn tạo, hơn nữa hiện nay đền Thượng Thái Sơn nằm trong khu vực Quần thể danh thắng Tràng An – di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới cho nên di tích đã và đang là điểm đến cho du khách xa gần cũng như trong danh sách các tour du lịch Ninh Bình và nghiên cứu triển khai các dự án đầu tư, tu bổ, tôn tạo di tích Đền thờ Công chúa nước Lào và xây dựng công viên chủ đề “Vườn văn hóa du lịch Việt – Lào” tại phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình đảm bảo các yếu tố lịch sử, văn hóa, ngoại giao Việt – Lào, tiếp tục bảo tồn và phát huy giá trị di tích, góp phần xây dựng quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện, gắn kết chiến lược Việt Nam – Lào mãi mãi xanh tươi đời đời bền vững./.
Nguyễn Vân



