Vai trò của Đinh Tiên Hoàng và ý nghĩa của Lễ hội Hoa Lư trong đời sống tâm linh của dân tộc Việt Nam

Khu di tích Lịch sử – Văn hóa Cố đô Hoa Lư, nơi lưu giữ, bảo tồn dấu tích lịch sử, văn hóa Việt Nam thế kỷ 10. Thế kỷ 10 là mốc rất quan trọng của lịch sử Việt Nam. Đó là Thế kỷ bản lề, khép lại thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc và mở ra thời đại độc lập dân tộc. Như chúng ta đều biết, năm 965, Nam Tấn vương Ngô Xương Văn qua đời, triều đình nhà Ngô do Ngô Quyền sáng lập (năm 939) tại Kinh đô Cổ Loa trở nên cực kỳ hỗn loạn. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép vào năm 966: “Nam Tấn vương mất, các hùng trưởng đua nhau nổi dậy chiếm quận ấp để tự giữ… Bấy giờ trong nước không có chủ, 12 sứ quân tranh nhau làm trưởng, không ai chịu thống thuộc vào ai[1].

Các sứ quân phần lớn là những người thuộc dòng dõi con cháu hoặc tướng lĩnh của nhà Ngô, nhiều người là anh em ruột thịt, có những người có thế lực về cả quân sự, chính trị và kinh tế ở địa phương. Sau khi triều đình Cổ Loa sụp đổ, một số quan chức và công thần của triều đình nhà Ngô đã tản về đất bản bộ, biến thực ấp của mình thành giang sơn riêng và mở rộng vùng kiểm soát ra các làng xã phụ cận, xây dựng thành vùng cát cứ.

Bấy giờ ở Trung Quốc, năm 960, Triệu Khuông Dận (Tống Thái Tổ: 960-975) phế bỏ nhà Hậu Chu, lập nên Vương triều Tống. Với một quân đội tương đối hùng mạnh, Tống Thái Tổ đã dùng chiến lược “trước Nam, sau Bắc”, điều quân đi chinh phạt các nước nhỏ ở phương Nam, khôi phục sự thống nhất trong nước và nuôi tham vọng chinh phục ra nước ngoài. Từ năm 963 đến năm 979, Tống Thái Tổ đã dùng vũ lực và thủ đoạn ngoại giao lần lượt tiêu diệt và thôn tính: Nam Bình (Hồ Nam), năm 963; Hậu Thục (Tứ Xuyên), năm 965; Nam Hán (Quảng Đông), năm 971; Nam Đường (Giang Tây), năm 975; Ngô Việt (Chiết Giang), năm 978 và Bắc Hán (Sơn Đông), năm 979, thống nhất Trung Quốc.

Trong tình hình đó, thử hỏi nếu cục diện loạn 12 sứ quân kéo dài, “trong nước không có chủ”, liệu vị Hoàng đế Trung Hoa Tống Thái Tổ có để cho nước ta thời bấy giờ yên hưởng nền độc lập không? Do vậy, sự xuất hiện của Đức vua Đinh Tiên Hoàng trên vũ đài chính trị và việc Người dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất quốc gia, thu non sông về một mối là điều vô cùng may mắn cho lịch sử dân tộc Việt Nam. Đúng như sử gia Lê Văn Hưu nhận định: “[Đinh] Tiên Hoàng có tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ, một phen cất quân mà mười hai sứ quân phục hết. Vua mở nước dựng đô, đổi xưng Hoàng đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đầy đủ…”[2].

Theo các tác giả bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, thì kể từ An Dương Vương cho mãi tới Ngô Vương Quyền, Ngô Xương Xí, Kiều Công Hãn, Mười hai sứ quân tranh nhau khởi lên “đều chưa có thời đại nào gọi là chính thống được. Đến thời đại Đinh Tiên Hoàng, trong nước mới thống nhất. Vậy Đinh Tiên Hoàng nên liệt vào chính thống để nối tiếp với quốc thống của Hùng Vương[3].

Ngoài ra, Đức vua Đinh Tiên Hoàng còn xưng Hoàng đế vào năm 968, rõ ràng là có hàm ý so sánh với các Hoàng đế Trung Hoa. Việc xưng Hoàng đế của Đinh Tiên Hoàng mở ra một truyền thống cho các vị vua khác của nước ta: Vua Lý ở thế kỷ XI, vua Trần ở thế kỷ XIII, vua Lê ở thế kỷ XV, vua Nguyễn ở thế kỷ XIX… đều đã xưng đế hiệu, khẳng định vị thế độc lập, không lệ thuộc vào chính quyền phương Bắc, mà đại diện là các Hoàng đế Trung Hoa.

Năm 968, Đức vua Đinh Tiên Hoàng đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, năm 970, đặt niên hiệu là Thái Bình. Sự kiện trọng đại này biểu hiện ý chí độc lập, tự chủ, không muốn lệ thuộc vào Trung Quốc của tầng lớp đứng đầu quốc gia Việt Nam ngày đó.

Tầm quan trọng của Lễ hội Hoa Lư trong đời sống tâm linh của dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay

Lễ hội Hoa Lư (hay còn gọi là Lễ hội truyền thống Trường Yên, Lễ hội Cờ Lau…). Ký ức dân gian vùng Cố đô Hoa Lư cho biết: Lễ hội Hoa Lư đã được bắt đầu ngay từ khi Đức vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long và trên nền móng của cung điện Hoa Lư, hai ngôi đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành cũng được tạo dựng. Để có được lễ hội như hiện nay, là cả một quá trình, mà trong đó có sự hòa quyện cả những yếu tố lịch sử và cả những truyền thuyết dân gian. Hình thức của Lễ hội, gồm có: Lễ rước nước, Lễ dâng hương, Lễ rước lửa, Tập trận cờ lau, Tế nữ quan, Kéo chữ, Múa rồng lân, Thổi cơm thiNhững tiết mục biểu diễn, thi đấu quen thuộc đối với nhiều lễ hội truyền thống dân gian khác.

Qua đó, chúng ta thấy Lễ hội Hoa Lư  bao gồm 2 phần LễHội.

Phần Lễ: là Lễ rước nước ở bến Trường Yên (sông Hoàng Long) và được tổ chức tế lễ hết sức trang nghiêm, thành kính ở hai đền vua Đinh và vua Lê.

Phần Hội: là các tiết mục như diễn trò “Tập trận Cờ lau”, Kéo chữ, Cờ tướng, Múa rồng lân, Thi viết chữ Nho, Thi Người đẹp văn hóa Cố đô Hoa Lư, v.v…

Trong đó, Lễ rước nước truyền thống ở Lễ hội Trường Yên hằng năm là biểu hiện của mối liên hệ mật thiết, hữu cơ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của cả cộng đồng, nó bao hàm những yếu tố: linh khí núi sông, tâm thức dân gian về cội nguồn đất nước, dân tộc, theo đạo lý: “Uống nước nhớ nguồn”.

Theo sử sách: Kể từ khi Kinh đô Hoa Lư trở thành cố đô, nhường vị trí trái tim của đất nước cho Kinh đô Thăng Long, thì Lễ hội Trường Yên, đều được các Vương triều phong kiến Việt Nam coi như một Lễ trọng, một Quốc lễ. Đến ngày diễn ra Lễ hội Trường Yên, triều đình Thăng Long (thời Lý, Trần, Lê…), hay triều đình Huế (thời Nguyễn), đều cử các vị quan đại thần về cố đô Hoa Lư tham dự và làm chủ tế.

Dưới triều Nguyễn (1802-1945), việc tế lễ Đức vua Đinh Tiên Hoàng trong Lễ hội Trường Yên càng được triều đình Huế hết sức coi trọng. Theo sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ thì hằng năm triều đình Nguyễn tổ chức đại lễ, tế miếu Đế vương các đời, trong đó có 4 vị được xem là đặc biệt quan trọng: Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương và Đinh Tiên Hoàng[4]. Ngoài việc triều đình Huế cử vị quan đại thần về Trường Yên tế lễ, từ năm 1823, vua Minh Mệnh còn cho dựng miếu Đức vua Đinh Tiên Hoàng ở xã Dương Xuân, Kinh đô Phú Xuân (Huế). Tại đây, hằng năm hai kỳ tế Xuân Thu, thường thường vua Minh Mệnh trực tiếp đến tế lễ Đức vua Đinh Tiên Hoàng, lễ vật gồm có: cỗ Thái Lao (tức Tam sinh: trâu, dê, lợn), xôi và hoa quả… Từ đó trở đi, triều đình quy định việc tế miếu Đinh Tiên Hoàng sẽ được cử hành hằng năm vào hai kỳ Xuân Thu để “ngưỡng trông công đức thời trước, phải nên cử hành lễ trọng thể, để giãi tỏ tấm lòng thành kính[5] của triều đình.

Qua đó, chúng ta thấy Lễ hội nói chung và Lễ hội Trường Yên nói riêng là một loại hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng phổ biến và đậm đà bản sắc dân tộc, là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể, làm giàu và phát huy giá trị nền văn hóa dân tộc. Ngày nay, đất nước Việt Nam ta đang chuyển mình mạnh mẽ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế. Đời sống vật chất và đời sống tinh thần của đại bộ phận nhân dân được nâng cao, do đó, việc tham gia lễ hội đã trở thành một nhu cầu chính đáng, có ý nghĩa lớn lao. Mấy năm gần đây, Lễ hội Trường Yên có vinh dự đón hàng vạn khách hành hương và du khách trong cả nước về dự lễ hội. Điều đó, khiến cho Lãnh đạo và nhân dân tỉnh Ninh Bình nhận thức cần đầu tư trí lực và tài lực để mở rộng và nâng cấp Lễ hội Hoa Lư lên một tầm mức mới.

Tổng hợp tin bài: Nguyễn Vân – Nguyễn Kiên

BQL Quần thể danh thắng Tràng An

[1]. Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1998, tập 1, tr.208-209.

[2]. Đại Việt sử ký toàn thư. Sđd, tập 1, tr.211.

[3]. Khâm định Việt sử thông giám cương mục (gọi tắt là Cương mục). Nxb Giáo dục, Hà Nội 1998, tập 1, tr.22, 23.

[4]. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (gọi tắt là Hội điển). Nxb Thuận Hóa, Huế 1993, tập 6, tr.429.

[5]. Hội điển. Sđd, tập 6, tr.432.