Tràng An gồm một loạt các địa hình karst điển hình, gồm nhiều loại đồi tháp ngoạn mục bao quanh bởi hàng loạt các thung lũng và hố sụt kín có các đầm lầy rộng liên kết với nhau bởi một hệ thống sông suối ngầm. Hình thành do kết quả tương tác của một số cấu trúc chính trên trái đất, Tràng An đặc sắc ở chỗ, nơi đây đã bị biển xâm lấn, biến cải nhiều lần và hiện nay nâng cao và trở thành đất liền. Sự phát triển địa hình trong một giai đoạn lâu dài đã tạo ra những cảnh quan đẹp phi thường - một sự pha trộn giữa những ngọn núi dạng tháp có vách dốc đứng trong khu rừng nhiệt đới nguyên sinh, bao quanh những trũng, thung lớn, sâu chứa nước trong và tĩnh lặng thông với vô số các hang động và sông suối ngầm, nhiều sông có thể đi lại bằng thuyền trên đó. Vẻ hoang sơ cho các du khách cảm giác về sự thanh bình, gần gũi và an toàn. Các bằng chứng khảo cổ học cho thấy một chuỗi cư trú và sử dụng khu vực này liên tục có ý nghĩa trong khoảng thời gian hơn 30.000 năm. Các bằng chứng thuyết phục đã cho biết những nhóm người cổ đã thích nghi với những biến đổi cảnh quan của khối đá vôi và đầm lầy xung quanh từ thời kỳ băng hà cuối cùng tới giai đoạn kết thúc – một vài trong số những biến đổi về địa lý và khí hậu khắc nghiệt nhất trong lịch sử gần đây của hành tinh. Bởi thế, Tràng An là một cuốn biên niên sử nguyên vẹn nổi bật về sự biến đổi môi trường và những ứng phó của con người trong quá khứ xa xôi. 

Tiêu chí VIII (địa chất-địa mạo): Là thí dụ nổi bật đại diện cho các giai đoạn phát triển chính của Trái Đất, bao gồm cả tiến trình phát triển sự sống, những quá trình địa chất quan trọng đang hình thành nên các dạng địa hình, hoặc các đặc điểm địa mạo hoặc sơn văn nổi bật.

Quần thể danh thắng Tràng An là đại diện nổi bật trong số những cảnh quan karst dạng tháp có ý nghĩa nhất toàn cầu. Tràng An không có đối thủ trên phạm vi toàn thế giới trong việc thể hiện các giai đoạn cuối cùng của chu trình tiến hóa karst trong môi trường nhiệt đới nóng ẩm. GS. Paul Williams người New Zealand, chuyên gia quốc tế hàng đầu về địa mạo và thủy văn karst, cố vấn chính của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) về các hang động và hiện tượng karst là Di sản Thế giới, đánh giá Tràng An là một thí dụ giáo khoa về cảnh quan karst dạng tháp nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm đang đạt đến giai đoạn phát triển hình thái cuối cùng, một hình mẫu tuyệt vời để các khu vực tương tự khác trên thế giới có thể đối sánh. 

Cảnh quan karst Tràng An là sản phẩm của quá trình phân cắt sâu một khối đá vôi nguyên khối rộng lớn, được nâng lên do va chạm giữa hai mảng lục địa Á-Âu và Ấn-Úc. Sự nâng lên của bề mặt san bằng cổ đã tạo nên các khối núi karst “ngang bằng chằn chặn”, cao 150-200m so với địa hình xung quanh. Quá trình tiến hóa tạo cảnh quan karst như ta thấy ngày nay có lẽ đã bắt đầu từ khoảng hơn 5 triệu năm trước, trong thế Pliocene, và đang đạt đến giai đoạn cuối cùng. Vì thế, Tràng An là một minh họa rất trực quan cho sự trẻ lại của cảnh quan và tính chu kỳ của các quá trình xâm thực đang diễn ra trong quá trình phát triển cảnh quan karst.

Cảnh quan karst ở Tràng An thể hiện một cách cực kỳ rõ nét sự phát triển của các dạng địa hình karst trong bối cảnh khí hậu gió mùa nóng ẩm. Những tàn dư vẫn còn nguyên vẹn của khối nâng karst kết hợp lại, tạo nên một cảnh quan karst với các khối karst hình chóp nón hoặc hình chuông có vách dốc, đan xen với các trũng sâu, tiêu nước hướng tâm, còn gọi là các hố sụt. Đây là một kiểu địa hình karst nhiệt đới gió mùa nóng ẩm kinh điển, mà nếu nhìn từ trên cao xuống sẽ thấy giống như một khay đựng trứng khổng lồ. Cùng với quá trình tiến hóa địa mạo tiếp tục diễn ra, các trũng kín bị ăn mòn xuống đến mực nước ngầm và mở rộng dần, các quèn giữa chúng bị tiêu hủy dần và các bồn trũng bắt đầu được liên thông. Đáy các hố sụt dần trở thành các thung lũng giữa núi và một số chóp nón karst trở thành rời rạc, rải rác trên cánh đồng phù sa. Quá trình bóc mòn tại chỗ khiến sườn dốc của chúng dần trở thành vách dựng đứng của các tháp, có thể thấy phổ biến ở phần rìa của khối đá vôi Tràng An. Do khối đá vôi thu nhỏ lại, đồng bằng gặm mòn rộng dần ra để cuối cùng sẽ thay thế hoàn toàn các khối núi nổi cao, và bằng cách đó, kết thúc một giai đoạn tiến hóa cảnh quan.

Ở Tràng An, các hố sụt, lũng kín hoặc thung lũng karst dạng tuyến thường ngập nước và liên thông với nhau bởi hệ thống rộng khắp các dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm, chảy qua một mạng lưới các hang luồn, có khi dài tới cả cây số, và hoàn toàn dưới các tháp nón karst. Hang luồn - một nét rất đặc biệt của Tràng An - phát triển rộng rãi ở đây hơn bất kỳ nơi nào trên Trái đất. Một số hang có thể là nóc của các hẻm núi cao, nay được trầm tích lấp đầy và được sông chạm khắc những khi mực nước biển xuống thấp. Chúng to nhỏ muôn hình vạn trạng. Nhiều đoạn hẹp và quanh co, nhiều đoạn lại khá rộng với trần hang khá bằng do bị khống chế bởi mực nước nhưng có chỗ bị ảnh hưởng bởi các mặt phân lớp của đá vôi. Thành và trần hang được chạm khắc bằng vô số kiểu dạng vi địa hình karst, kể cả những hốc lõm dạng vỏ sò ăn ngược lên trần hang - kết quả của quá trình hòa tan, rửa lũa do hơi nước ngưng tụ, hoặc các vạt lõm kéo dài dọc theo chiều dòng chảy - kết quả của quá trình hòa tan, rửa lũa do dòng nước mùa mưa lũ. Đặc biệt có rất nhiều kiểu dạng, hình thù của quá trình tích đọng carbonat trong hang, như các măng đá, nhũ đá, cột đá và các rèm đá...

Tràng An là một thí dụ điển hình trên phạm vi toàn cầu về việc thể hiện, rõ ràng và toàn diện, đầy đủ các dạng cảnh quan karst nhiệt đới gió mùa nóng ẩm đặc trưng, bao gồm các tháp, chóp nón, hố sụt, lũng kín đẳng thước, thung lũng karst dạng tuyến, karren, ngấn đầm lầy, hang luồn, hang xuyên thủy, sông hang ngầm và hang động cùng các dạng nhũ đá. Một đặc điểm rất có ý nghĩa khoa học là sự có mặt các dạng cảnh quan karst chuyển tiếp giữa karst dạng tháp (tower karst hoặc “fenglin”), vách đứng, rời rạc, rải rác trên cánh đồng phù sa với karst dạng chóp nón (cone karst hoặc “fengcong”), ngăn cách với nhau bởi các hố sụt, lũng kín và các dải sống núi và quèn hẹp. Sự chuyển tiếp từ nón karst sang tháp karst rời tại cơ sở xâm thực địa phương (mực nước biển), rồi tới đồng bằng gặm mòn được phù sa lấp đầy thể hiện những giai đoạn cuối cùng của chu trình tiến hóa karst. Không nơi nào trên thế giới thể hiện sự chuyển tiếp này rõ ràng và đặc sắc như Tràng An.

Câu chuyện về tiến hóa karst, được thể hiện rất chi tiết ở Tràng An, còn có giá trị khoa học lớn hơn nhờ các bằng chứng về sự thay đổi mực nước biển trong quá khứ ở đây. Trong Pleistocene và Holocene, phần rìa của khối đá vôi Tràng An đã từng nhiều lần bị biển xâm lấn và biến cải. Những khi mực nước dâng cao, Tràng An đã trở thành một quần đảo. Mặc dù giờ đây đã nổi lên trên cạn, nhưng những bằng chứng của mực nước biển cổ vẫn còn rất rõ ràng ở các khoảng độ cao 75m (Pleistocene sớm), 30-70m (Pleistocene giữa), 10-30m (Pleistocene muộn) và 2-10m (Holocene sớm-giữa). Các nhà địa mạo cho rằng Tràng An còn có giá trị toàn cầu ở chỗ nơi đây đã thể hiện sự tương tác của quá trình tiến hóa karst với sự thay đổi của mực nước biển và mực nước ngầm tương ứng.

Có giá trị khoa học đặc biệt là sự có mặt rộng khắp của các ngấn nước trên các vách đá vôi. Ở Tràng An ta có thể thấy các dạng chuyển tiếp giữa ngấn đầm lầy, hình thành do nước ngọt, sang ngấn biển hình thành do các quá trình liên triều. Các ngấn biển, hay đi cùng với các hang động, thềm sóng vỗ và trầm tích bãi biển, thường có nhiều lỗ, hốc do hàu hà đục; một số ngấn nước và hang luồn còn gặp vỏ hàu hà bám vào. Chúng là những bằng chứng rõ ràng nhất về sự dao động của các mực nước biển cổ.

Nhiều tầng văn hóa đã được phát hiện trong khoảng 30 hang liên quan tới mực nước biển cổ, và đến nay đã có 14 hang được khai quật . Kết quả nghiên cứu các di chỉ này cho phép khẳng định một phát hiện khảo cổ lớn có ý nghĩa quốc tế về quá trình chiếm cư liên tục của người tiền sử ở đây trong vòng hơn 30.000 năm qua, kể từ cao trào của thời kỳ băng hà cực đại cuối cùng. Câu chuyện về sự thích ứng của người xưa đối với các biến đổi khí hậu và môi trường có ý nghĩa toàn cầu trong việc tìm hiểu quá trình tiến hóa của họ thời kỳ tiền sử. Đây cũng chính là một giá trị nổi bật toàn cầu của Tràng An theo tiêu chí (v), được đề cập đến trong phần tiếp theo của hồ sơ.

Tiêu chí VII (cảnh quan): Là nơi lưu giữ các hiện tượng siêu nhiên hoặc có vẻ đẹp tự nhiên và giá trị thẩm mỹ đặc biệt.

Vẻ đẹp cảnh quan 

Tràng An là một cảnh quan đá vôi có vẻ đẹp siêu nhiên của một quần thể các tháp nón đá vôi ngoạn mục, với các vách đá nổi cao dựng đứng đến 200m trên mặt đất và mặt nước xung quanh.  

Các tháp nón đá vôi có nhiều kiểu loại. Ở phần ven rìa khối đá vôi Tràng An đó là các tháp tách biệt có đỉnh bằng, trông như những hòn đảo có hình dạng và kích thước khác nhau, “nổi cao” rải rác trên đồng lúa. Ở trung tâm khối như ở khu vực Đền Trần hoặc Hang Trống, Hang Bói, địa hình karst chuyển sang dạng chóp nón hoặc dạng chuông, với đỉnh nhọn, kết nối với nhau bởi các dải sống núi sắc mảnh. Trong các truyền thuyết và sự tích về Tràng An, những dải sống núi này được ví như các thanh kiếm khổng lồ bảo vệ đất nước chống lại quân xâm lược. 

Đan xen cùng các tháp, chóp, nón, chuông và các dải sống núi hẹp giữa chúng là mạng lưới phức tạp các hố sụt, lũng kín hoặc thung lũng to nhỏ, nông sâu khác nhau, một số có hình đẳng thước, tròn trịa, số khác lại quanh co hoặc khá thẳng. Trong đó là các đầm lầy bồi tích rộng, liên thông với nhau bởi các hang động xuyên thủy nước chảy lững lờ, có hang dài tới cả cây số, có thể ra vào bằng thuyền nhỏ. Trần hang được trang trí bởi các nhũ đá với hình dáng, kích cỡ và màu sắc khác nhau, tạo nên một không gian ngầm kỳ ảo, quyến rũ. 

Thêm vào sắc màu, kiến trúc và vẻ đẹp của cảnh quan karst là thảm rừng nguyên sinh dày, mang lại không khí nguyên sơ ở khắp mọi nơi, thậm chí rừng còn phủ cả các vách đá và che đi phần nào các tháp đá. Màu xám của đỉnh và vách đá vôi, xanh đậm của rừng, xanh ngọc của nước, xanh lam của bầu trời cùng những đám mây đủ các loại dáng vẻ hòa quyện lại để cùng làm nên một xứ sở thần tiên lộng lẫy, quyến rũ, đa sắc màu và luôn luôn thay đổi.

Trên các bãi bồi rộng của khu di sản cũng như bên ngoài vùng đệm là những đồng lúa đan xen một cách hài hòa với núi rừng, trong khi men theo các dòng suối là những bông hoa sen, hoa súng tươi tắn, rực rỡ. 

Những thửa ruộng thay đổi màu sắc theo mùa vụ, cùng núi rừng, sông nước làm nên một bức tranh sơn thủy quyến rũ, trên đó nổi lên hình ảnh những người nông dân đang làm ruộng, đánh bắt cua cá hoặc đơn giản chỉ là đang đắm chìm vào những việc mưu sinh truyền thống khác của họ.  

Những bầy dê đang vô tư kiếm ăn trên vách núi, trong khi từng đàn trâu nước dầm mình trong các bãi lầy cùng đàn diệc, đàn cò trắng... Đủ loại chim chóc làm náo động cả núi rừng, trong khi các loài chim trả, le le, cá hoặc ếch nhái chiếm lĩnh sông suối và các đầm nước. Những ngôi chùa, am miếu nhỏ cổ kính, rêu phong, có khi nằm treo leo trên vách đá và sống núi, bổ sung thêm một nét văn hóa kín đáo nhưng rất riêng cho cảnh quan tự nhiên, và là bằng chứng sống động về mối lương duyên lâu đời giữa đạo và cảnh quan. Môi trường thiên nhiên vô cùng tươi đẹp của khu di sản hòa quyện liền mạch với làng xóm ở vùng đệm xung quanh, nơi chủ yếu có nhà cửa, vườn tược và các cánh đồng. Các làng xóm nhỏ và cộng đồng nông thôn kết nối với nhau bởi những con đường hẹp, lối mòn, cùng mạng lưới sông suối và các kênh mương phức tạp, làm thành những lối đi truyền thống của con người trong cảnh quan cổ xưa này. 

Giá trị thẩm mỹ

Phần lớn Tràng An, về cơ bản, là một vùng thiên nhiên hoang sơ, chưa bị tác động bởi các hoạt động nhân sinh. Rừng còn nguyên sơ, nước sông nước suối trong xanh, không khí trong lành và làng quê thì yên ả, chỉ có âm thanh của thiên nhiên.

Cảnh quan quyến rũ, tương phản nhau ở rất nhiều khía cạnh. Về hình khối đó là sự đan xen giữa các tháp nón karst nổi cao trên những đầm lầy, thung lũng bằng phẳng, rộng lớn kết nối với nhau bởi một hệ thống các hang động và dòng chảy kỳ ảo. Về sắc màu đó là sự tươi tắn, rực rỡ ở nơi thoáng đãng của thung lũng, sông suối và bầu trời đối lại với bóng tối, không gian chật hẹp và bí ẩn của hang động và dòng chảy ngầm. Không khí trong hang ấm hơn, ẩm hơn cũng làm cho du khách nóng bức hơn so với với cảm giác sảng khoái ở ngoài trời.

Tham quan Tràng An du khách sẽ không dùng xe cộ hoặc phương tiện hiện đại, ồn ào, thoảng qua. Ngược lại, họ sẽ khẽ ngồi trên chiếc thuyền nhỏ, đáy bằng truyền thống, được chèo bằng tay hoặc chân một cách chậm rãi, nhẹ nhàng bởi các chị, các cô lái đò xinh xắn, xởi lởi, thân thiện. Khi chèo, khi đẩy, khi luồn lách trong những hang động nhỏ hẹp, họ sẽ nhiệt tình, hài hước giới thiệu cho du khách về mảnh đất quê hương mình. Những hiểu biết bản địa, chân chất của họ về lịch sử và môi trường Tràng An sẽ khiến du khách thêm hiếu kỳ, hứng thú.

Ngồi trên những chiếc thuyền câu, ngước nhìn các vách núi sừng sững ở ngay xung quanh khiến người ta cảm thấy nhỏ bé nhưng đồng thời cũng gần gũi, thoải mái, gắn kết với môi trường tự nhiên. Mọi nơi mọi chốn ở Tràng An đều đem lại cho du khách một cảm giác yên bình và thanh thản. Đây thực sự là một nơi tuyệt vời để tận hưởng sự thư giãn, an toàn và thanh tịnh, tránh xa khỏi những đám đông ầm ĩ, giao thông tắc nghẽn ở chốn đô thị và những căng thẳng của cuộc sống, của công việc hàng ngày. 

Trải nghiệm đặc sắc này về Tràng An không chỉ là cảm hứng bất tận cho du khách ngày nay, mà còn cho người dân nhiều thế hệ trong quá khứ. Con người đã bộc lộ cảm hứng của họ đối với vẻ đẹp của Tràng An bằng nhiều hình thức khác nhau. Nằm biệt lập và kín đáo ở nơi núi rừng ngập nước tứ bề, được gia cường bằng các thành lũy kiên cố nhưng lại lợi dụng địa hình địa vật karst hiểm trở để giảm thiểu công sức xây đắp, người Tràng An thời kỳ lịch sử đã tạo ra một nơi ẩn náu chính trị an toàn. Những ngọn núi hùng vĩ, thảm rừng rậm rì và hệ thống hang động bí ẩn làm dấy lên những xúc cảm tâm linh và sùng đạo, được minh chứng qua những ngôi đền, chùa linh thiêng điểm xuyết trong cảnh quan. Cảm hứng của con người đối với môi trường được thể hiện dưới nhiều hình thức nghệ thuật truyền thống được cá nhân hóa cao - hội họa, thơ ca, bài phú, hát hò, nhảy múa, các sản phẩm thủ công... 

Trải qua thời gian, cảnh quan Tràng An, với những ngọn núi tráng lệ, hang động huyền bí và nhiều chốn linh thiêng, đã là một biểu tượng cho nền văn hóa Việt Nam đang biến chuyển. Đây đúng là nơi của cảm hứng bất tận, nơi thiên nhiên và văn hóa  không thể tách rời, nơi văn hóa tương tác và thay đổi bởi sự kỳ diệu, sự huyền bí và vẻ lộng lẫy của thế giới tự nhiên.

Tiêu chí V (văn hóa)

Là một thí dụ nổi bật về truyền thống cư trú của loài người, truyền thống sử dụng đất hoặc sử dụng biển, đại diện cho một (hay nhiều) nền văn hoá, hoặc quá trình tương tác giữa con người với môi trường, đặc biệt khi nó trở nên dễ bị tổn thương dưới tác động của những thay đổi không thể đảo ngược

Tràng An là một địa danh nổi bật trong khu vực Đông Nam Á và có ý nghĩa đặc biệt đáng kể trên toàn thế giới, vì đã cho thấy cách người tiền sử tương tác với cảnh quan thiên nhiên và thích ứng với những biến đổi to lớn về môi trường trong suốt hơn 30.000 năm qua. TS. Ryan Rabett, một chuyên gia quốc tế nghiên cứu về đặc điểm di cư, hành vi và thích ứng của con người trong thời đại Đá cũ châu Á, người đã chủ trì một dự án nghiên cứu khảo cổ học của Đại học Cambridge ở khu vực này từ năm 2007, xem Tràng An như một điểm tham khảo vô giá mang tính toàn cầu để tìm hiểu quá trình thích ứng với, và tái chiếm cư, cảnh quan dưới những biến đổi khắc nghiệt của môi trường. 

Một số đặc điểm mang tính quyết định đã kết hợp lại khiến cho Tràng An trở nên độc nhất trong tiền sử Đông Nam Á và có thể được công nhận là có giá trị văn hóa nổi bật toàn cầu. 

Thứ nhất, Tràng An là một thí dụ đặc biệt rõ nét để tìm hiểu về tương tác giữa con người và môi trường ở Đông Nam Á trong một giai đoạn dài của lịch sử loài người. Khu di sản nổi tiếng với một trong các chuỗi ghi lại hoạt động của con người ở Việt Nam được nghiên cứu kỹ nhất, có niên đại chắc chắc nhất và dài nhất, bao gồm cả hai trong số những di chỉ khảo cổ học có niên đại sớm nhất của đất nước. Phân tích các dữ liệu khảo cổ khá phong phú được thu thập từ một loạt các di chỉ hang động còn được bảo tồn khá nguyên vẹn ở Tràng An đã cho phép phục dựng lại lịch sử hoạt động của con người từ Pleistocene muộn đến Holocene sớm, bao gồm cả một tập hợp liên tục các số liệu về sự chuyển tiếp giữa hai thời kỳ này. Chúng xứng đáng là một chuỗi số liệu khảo cổ học tầm cỡ khu vực về các hoạt động nhân sinh tiền sử kéo dài hơn 30.000 năm, từ khoảng 1.200 năm BP đến khoảng 33.100 năm BP. Chính vì thế, Tràng An là một kho lưu trữ nguyên vẹn nổi bật về các biến đổi môi trường và ứng phó của con người với  những biến đổi đó trong quá khứ xa xôi.

Thứ hai, lịch sử văn hóa của Tràng An có mối quan hệ chặt chẽ với quá trình tiến hóa địa chất gần đây của khối đá vôi, với những chuyển đổi mạnh mẽ giữa các bối cảnh môi trường lục địa, đảo và ven biển. Trong quá khứ địa chất gần đây, Tràng An đã vài lần chuyển từ cảnh quan lục địa sang cảnh quan biển và ngược lại. Có những thời điểm khối đá vôi ở cách khá xa bờ biển, nhưng cũng có lúc nó trở thành một quần đảo giữa đại dương. Trước những biến đổi của khí hậu và mực nước biển hệ môi trường trên cạn dao động giữa các chế độ sông, đầm lầy, cửa sông và ven biển. Các sưu tập khảo cổ học được khai quật chỉ mới từ một số hang đầu tiên ở Tràng An cho thấy những bằng chứng thuyết phục về cách thức các nhóm người xưa ứng phó với sự thay đổi cảnh quan của khối đá vôi và vùng thấp xung quanh bắt đầu từ kịch phát của thời kỳ băng hà cuối cùng qua những biến đổi dữ dội vào cuối thời kỳ đó. Đây là một trong số những biến đổi về địa lý và khí hậu khắc nghiệt nhất trong lịch sử gần đây của Trái đất, trong đó, phần lớn diện tích tiểu lục địa Đông Nam Á (trong địa chất gọi là “Sundaland”) đã bị ngập chìm, lúc từ từ lúc lại khá nhanh, do nước biển dâng - một chuỗi những thay đổi làm biến đổi căn bản môi trường địa phương và khu vực cũng như các cộng đồng dân cư sinh sống trong đó. Tràng An, vì thế,  là nơi chứa đựng sự tương tác giữa con người và môi trường và là một trong số ít các địa điểm quý báu ở Đông Nam Á lưu giữ được phần lớn các đặc điểm nguyên sơ của nó do tránh được những tác động quy mô lớn bởi con người, động vật và các tác nhân khác sau này. Câu chuyện văn hóa tiền sử ở Tràng An là hình ảnh thu nhỏ của quá trình ứng phó mang tính toàn cầu của con người với nước biển dâng sau thời kỳ băng hà của khu vực, đến mức Tràng An có thể coi là một nguyên mẫu - một hình mẫu để những địa điểm khác trong khu vực cùng chịu tác động này có thể đối sánh. 

Thứ ba, và thêm vào tính độc đáo của nó, là việc không chỉ bao gồm một bối cảnh địa chất hiện đại, Tràng An còn có nhiều dạng cảnh quan - một môi trường tiến hóa, trong đó các cộng đồng cư dân sớm đã đối mặt với những cơ hội và thách thức dưới dạng những biến đổi cảnh quan lặp đi lặp lại không thể đảo ngược. Những cư dân sớm ở Tràng An đã là một bộ phận không thể tách rời khỏi cộng đồng sinh vật đã tồn tại hoặc phát triển được ở đây ít nhất là từ giai đoạn Băng hà cực đại cuối cùng (và có thể trước đó). Các bằng chứng cho thấy người sớm sử dụng khối đá vôi Tràng An theo mùa và có thể liên quan đến một nguồn thức ăn quan trọng - ốc núi. Các dạng thức ăn khác tìm thấy trong đống rác bếp khai quật ở các hang thường có nguồn gốc sông suối, như cua nước ngọt, các loài nhuyễn thể, cá, rùa... Răng xương động vật có vú, như khỉ, hươu, lợn và sóc, ít thấy, chứng tỏ người xưa chỉ săn bắn khi có dịp để bổ sung nguồn dinh dưỡng cho bữa ăn. Hạt và hoa quả cũng gặp phổ biến trong thức ăn. Từ Holocene sớm, biển tiến đã làm thay đổi nhiều phần của khối đá vôi và các khu vực xung quanh, biến chúng thành các vụng biển và môi trường đầm lầy nước mặn, và cho đến khoảng 5.500 năm trước, các sưu tập động vật thu được ở các di chỉ thấp và ven rìa khối cho thấy nguồn thức ăn khai thác từ biển đã tăng lên. Trong số này có cả các loài sống xa khơi như cá ngừ - cho thấy nghề đánh bắt cá ở đây đã khá phát triển. Việc phục dựng cổ môi trường với các kỹ thuật nhận dạng trong phòng và ngoài trời đã mang lại nhiều hiểu biết có giá trị về động thái cổ môi trường ở Tràng An, bao gồm những biến đổi về loại hình và thành phần thực vật, về môi trường và quần xã động vật, cũng như về lượng mưa và các kiểu khí hậu khác. Ví dụ, một loạt các loại hình thực vật được nhận dạng trong các tầng văn hóa bằng phương pháp phân tích bào tử phấn đã chỉ ra tính đa dạng sinh thái dài hạn ở những lưu vực riêng rẽ của Tràng An. Bắt đầu có những bằng chứng về sự biến đổi cấu trúc và thành phần rừng, từ kiểu rừng mưa nguyên sinh tán kín cho đến rừng khô theo mùa, với rừng ôn đới và đồng cỏ xuất hiện trong những thời kỳ lạnh hơn. Một số môi trường tự nhiên từng rất phổ biến trước kia như đầm lầy nước ngọt và rừng đước không còn tồn tại ở châu thổ sông Hồng nữa. Các bằng chứng về cổ môi trường ở Tràng An, đối chiếu với khảo cổ học, đã cho phép thu được những thông tin quan trọng về các môi trường đã mất, lịch sử tiến hóa và tính đa dạng của chúng, cũng như việc con người đã thích ứng như thế nào với những môi trường cổ này trong và sau giai đoạn băng hà cuối cùng. Những phát hiện rõ ràng về đặc điểm thực vật xưa cùng các mối liên quan gần gũi giữa các chứng cứ khảo cổ học và môi trường cổ như vậy khá hiếm gặp ở Đông Nam Á và, vì thế, Tràng An đã nhanh chóng được công nhận về khoa học như là một chuỗi điển hình trong khu vực.

Thứ tư, trong khi các bằng chứng khảo cổ học ở Đông Nam Á thường chỉ là một hoặc một số ít các di chỉ liên quan, thì Tràng An lại là cả một cảnh quan được bảo tồn rất tốt về sự tương tác của con người và phương thức sống. Trong một cảnh quan khá nhỏ gọn có nhiều di chỉ, đại diện cho nhiều giai đoạn và chức năng khác nhau, hay nói cách khác, đó là cả một hệ thống cư trú. Không có nơi nào khác ở Đông Nam Á mà các tư liệu về sự cư trú và di chuyển của người hái lượm nhiệt đới lại được thể hiện rõ ràng hơn và được nghiên cứu kỹ hơn là ở đây. Đáng nói hơn, nó còn cho thấy có sự biến động giữa các di chỉ, tức là chúng cần được xem như là những mắt xích hoạt động trong một cảnh quan văn hóa đang hình thành - giống như các thành tố tách biệt nhưng có quan hệ với nhau trong một chu trình kinh tế và xã hội. Những kiến thức thu được từ Tràng An bởi thế có thể góp phần vào việc thay đổi tận gốc chiến lược nghiên cứu về tiền sử trong khu vực. 

Cuối cùng, trên cả khu vực Đông Nam Á, chỉ có ở Tràng An quá khứ xa xăm mới được sử dụng để thông báo một cách có chủ đích về thích ứng của con người trong tương lai. Những thông tin rõ ràng và nổi bật về tương tác con người-môi trường được lưu giữ trong các hang động Tràng An, theo nhiều khía cạnh, là một cẩm nang mang tính toàn cầu về quá trình con người thích ứng với những biến đổi môi trường rộng khắp vào cuối thời kỳ băng hà cuối cùng. Sự có mặt của con người và các hoạt động sinh tồn, thậm chí chỉ là những người hái lượm, một cách lâu dài đã tác động đến sự phân bố tài nguyên và cấu trúc môi trường; cũng giống như những biến đổi môi trường diễn ra một cách tự nhiên đó, đến lượt mình lại tác động trở lại các nhóm người - trong việc họ định cư và khai thác cảnh quan đó. Câu chuyện văn hóa xuất phát từ những nghiên cứu ở Tràng An không chỉ làm phong phú thêm cho các di sản địa phương và những hiểu biết khoa học về hành vi của người xưa, nó còn là một tham khảo vô giá về quá trình thích ứng của con người, một quá trình không chỉ giới hạn ở thời kỳ tiền sử sớm nhất của chúng ta, mà còn đang tiếp diễn và hết sức thời sự ngày hôm nay. Tràng An cung cấp một bộ kiến thức có tầm quan trọng ngày một tăng trong thế giới hiện đại khi ứng phó của con người và môi trường với biến đổi khí hậu và những hiện tượng khí hậu cực đoan đang là những chủ đề nóng trong các chương trình nghị sự quốc tế về chính trị, kinh tế và xã hội.

Tổng hợp: Phòng Hợp tác Đối ngoại