Những tư liệu bước đầu cho thấy, sau 4.000 năm, về cơ bản con người đã không cư trú lâu dài trong hang hoặc mái đá  nữa, mặc dù vậy, họ vẫn qua lại nơi đây để trú ẩn ngắn ngày, kiếm sống. Ngoài khu trung tâm, cư dân giai đoạn kim khí mở rộng không gian sống một cách nhịp nhàng theo xu hướng biển thoái, chuyển từ hang cao xuống hang thấp, từ không gian thung lũng khép kín ở trung tâm ra không gian thung lũng mở rìa ngoài rìa khối đá vôi Tràng An, từ trong hang động và mái đá ra cư trú ngoài trời, trên những cồn cát, bãi bồi ven biển. Cùng với việc chuyển cư là quá trình khai phá đồng bằng ven biển và thung lũng karst. Bức tranh văn hóa thời đại kim khí ở Tràng An khá đa sắc với các nhóm cư dân ở các tiểu vùng Di sản đề cử khác nhau, với những dấu ấn văn hóa riêng. 

Vùng đất Tràng An – Từ thời đại kim khí tới triều đại nhà Đinh 1

Hang khảo cổ tại Quần thể danh thắng Tràng An

Nhóm cư dân phía Tây khu vực đề cử hay phía trong của đường biển cổ gồm các di tích Hang Núi Tướng 1, Hang Núi Tướng 2 (xã Sơn Hà, Nho Quan), Núi Ốc, Núi Ốp, Đồi Ông Cẩm (xã Yên Sơn). Những cư dân này sống ven biển, khai thác biển nông, đồng thời khai thác hệ động thực vật núi đá vôi. Họ sử dụng công cụ đá vôi, gốm kiểu Đông Sơn muộn, xuất hiện rìu tứ giác mài toàn thân, có quan hệ chặt chẽ với cư dân cùng thời ở hang Núi Một, hang Núi Hai, hang Chợ Gành (phường Bắc Sơn, Tam Điệp) thuộc thời đại đồng thau và sắt sớm.
Nhóm cư dân phía Nam, vươn rộng ra vùng bờ biển cổ, ven chân núi gồm các di tích: Hang Đụn Mối, Hang Vàng, Hang Tai Voi, hang Công Xưởng, Mái đá Rặng (Ninh Hải) vừa khai thác sản vật biển nông như nhuyễn thể, vừa khai thác sản vật trên núi đá vôi như ốc Cyclophorus, các loài sống trong nước ngọt như ốc (Melania), sử dụng đá vôi, các loại đá cuội và xuất hiện rìu mài toàn thân.  

Nhóm cư dân phía Đông phía núi Phượng đang tiếp tục được nghiên cứu, đặc biệt Nhóm cư dân phía Bắc thuộc không gian cố đô Hoa Lư với sông Sào Khê chảy qua đậm đặc các di tích khảo cổ giai đoạn sơ sử và lịch sử, tiêu biểu là các di tích Hang Áng Nồi, Mái đá ông Mi (Ninh Hòa), hang Trâu, Hang Chùa (Gia Sinh), Núi Xưa, Đồi Đống (Sơn Lai). Đây là vùng thung lũng lầy trũng, cư dân vừa khai thác nguồn biển nông, vừa khai thác nguồn lợi sông và cả nguồn lợi núi đá vôi. Khi nơi đây trở thành trung tâm cố đô Nhà Đinh vào thế kỷ 10, thì trong quá trình xây dựng kinh thành Hoa Lư người địa phương đã dùng cói, lác, lau sậy và tre gỗ để gia cố nền móng chống lún, đắp đất tôn cao các công trình kiến trúc nhà ở và cung điện. Để thoát nước người ta tiến hành đào hào, khai thông luồng lạch, lấy đắp những đoạn tường thành để nối liền hệ thống các hẻm núi đá vôi với nhau tạo nên thành lũy bán tự nhiên. Sông Bến Đang đã được khai đào vào thời Nhà Lê, thoát nước úng cho vùng trũng Nho Quan, Gia Viễn. Trong một số di tích các nhà khảo cổ đã tìm thấy trống đồng, mộ thuyền, mộ xây cuốn vòm cùng các mảnh gốm Đông Sơn vào đầu Công nguyên. Một số di vật thuộc dạng vật liệu kiến trúc như gạch, ngói, có niên đại cách ngày nay khoảng 1.300 năm đã xuất lộ trong khu cố đô Hoa Lư.

Một số di tích, di vật thời đại kim khí ở khu vực Tràng An có liên hệ chặt chẽ với các di tích tiền sử ở đây và các di tích cùng thời ở khu vực xung quanh.  Tư liệu này cho thấy, bước sang thời đại kim khí, con người bắt đầu rời hang ra cư trú ngoài trời, song vẫn khai thác hệ sinh thái thung lũng núi đá vôi với sự tương thích hài hòa trước các biến động của tự nhiên. Đó là việc mở rộng khai thác các nguồn lợi từ sông, từ biển song vẫn tiếp tục khai thác các nguồn lợi rừng núi, thung lũng đá vôi; vươn ra cư trú ngoài trời, song vẫn tiếp tục duy trì truyền thống sử dụng hang động và mái đá. Cư dân cổ nơi đây tiếp tục thâm nhập vào khu trung tâm trên hệ thống các sông: Sào Khê, sông Vối và sông Ngô Đồng, đồng thời họ mở rộng kiếm sống và giao lưu về phía biển Đông. Và vào thế kỷ 10 cư dân Việt ở khu vực này đã lợi dụng các ưu điểm về tự nhiên để hình thành nên ở Hoa Lư kinh đô của triều đại phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên của Việt Nam.

Tin bài: Phòng Hợp tác Đối ngoại.