Có thể nói, Ninh Bình là tỉnh có diện tích nhỏ, nhưng không gian văn hoá  đậm đặc. Cố đô Hoa Lư - mốc son lịch sử, lưu truyền sử sách; “Nam thiên đệ nhị động” Tam Cốc Bích Động - sơn thuỷ hữu tình; “Nam thiên đệ tam động” Địch Lộng kỳ tú; Nhà thờ đá Phát Diệm cổ kính; phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn còn in dấu chân thần tốc của đội quân Tây Sơn. Khu hang động Tràng An, khu ngập nước Vân Long, động Vân Trình... với hang ngàn di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu, bao tiềm ẩn, mời gọi du khách thập phương về với Ninh Bình.

Ninh Bình cũng là tỉnh có khá nhiều lễ hội, theo bước đầu thống kê, toàn tỉnh có 74 lễ hội truyền thống, trong đó, 66 lễ hội dân gian, 8 lễ hội tôn giáo. Trong số 74 lễ hội thì lễ hội tổ chức ở đền: 19; chùa 11; đình: 12; phủ: 4; nhà xứ: 4; địa điểm khác (ở làng, xã).

Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá lâu đời của dân tộc Việt Nam. Lễ hội có sức hấp dẫn, lôi cuốn các tầng lớp xã hội, đã trở thành một nhu cầu, một khát vọng của nhân dân trong nhiều thế kỷ. Có lẽ, lễ hội Ninh Bình cũng mang đặc điểm chung của lễ hội các tỉnh Bắc Bộ, đó là diễn ra vào tiết nông nhàn (xuân, thu) và không gian lễ hội thường gắn với các di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh của địa phương.

Cũng như nhiều địa phương trong cả nước, trong những năm gần đây, tỉnh Ninh Bình đã tiến hành khôi phục lại nhiều lễ hội truyền thống mà qua một thời gian dài “vắng bóng”. Sở dĩ như vậy là do có các chính sách đổi mới của Đảng về văn hoá, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội trong tình hình mới, thời đại mới - thời đại kinh tế thị trường và kinh tế hội nhập quốc tế. Nhờ đó, các khu vực, không gian của các lễ hội truyền thống cũng được quan tâm trùng tu, khôi phục (đình, đền, chùa, miếu, phủ…).

Lễ hội tại Ninh Bình phong phú và đa dạng, đầu xuân với lễ hội chùa Bái Đính khai mạc vào ngày mùng 6 tháng Giêng hàng năm và diễn ra trong suốt mùa xuân với nét đặc sắc của chùa Bái Đính là tại đây không chỉ thờ các vị sơn thần, Phật tổ, bà chúa thượng ngàn mà còn gắn với nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc với các danh nhân vua Đinh Tiên Hoàng, đức Lý Quốc Sư, vua Quang Trung. Như sự  tổng hòa của  nhiều tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam như Phật giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu; hay tại  xã Yên Từ - huyện Yên Mô với Lễ hội Báo Bản làng Nộn Khê, là một trong các lễ hội làng nổi tiếng trên địa bàn tỉnh - về cả quy mô, diễn trình và một số lễ thức từ lâu đã trở thành nét đặc trưng, độc đáo và đặc sắc.Lễ hội được tổ chức vào ngày 14 tháng Giêng Âm lịch hàng năm. Tên gọi “Báo Bản” được hiểu là báo đáp công đức của tiền nhân, ông cha, những người có công lao khai khẩn đất đai, lập dựng xóm làng.

Đặc biệt, vào tháng ba một số lễ hội truyền thống tiêu biểu của Ninh Bình được diễn ra như: Lễ hội Tràng An (Khu du lịch sinh thái Tràng An; Lễ hội đền Thái Vi (xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư); lễ hội tại đền Thượng thờ công chúa nước Lào.... Tiêu biểu nhất là lễ hội được ghi tên trong danh mục lễ hội phi vật thể quốc gia – Lễ hội truyền thống Cố đô Hoa Lư.

Lễ hội Tràng An

Tháng 3 – Tháng của Lễ hội Ninh Bình 1

Lễ hội Tràng An là lễ hội truyền thống, được tổ chức vào ngày 17- 18/3 âm lịch hằng năm, là dịp để nhân dân tưởng nhớ, tri ân công lao to lớn của Đức thánh Quý Minh Đại Vương - một trong ba vị Thánh Tản, tướng thời vua Hùng Vương thứ 18 đã có công chiêu dân lập ấp, trấn ải Sơn Nam, các vị tiền nhân có công với quốc gia, dân tộc. Thông qua lễ hội nhằm giáo dục truyền thống yêu nước và tinh thần đại đoàn kết dân tộc; thể hiện lòng thành kính, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tính nhân văn sâu sắc trong cội nguồn văn hóa Việt Nam, mong cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, người người hạnh phúc. 

Lễ hội Tràng An đã trở thành một nét văn hóa truyền thống, gắn liền với Quần thể danh thắng Tràng An, với sự lan tỏa một cách tự nhiên thu hút đông đảo nhân dân cả nước cũng như du khách thập phương về tham gia lễ bái, trẩy hội, tạo động lực mạnh mẽ cho việc quảng bá và phát triển du lịch của tỉnh nhà.

Lễ hội đền Thái Vi

Tháng 3 – Tháng của Lễ hội Ninh Bình 2

Đền Thái Vi ở thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải huyện Hoa Lư. Lễ hội mở từ ngày 14-16/3 Âm lịch hàng năm, để tưởng nhớ 3 vị vua nhà Trần: vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông. Đặc biệt là vua Trần Thái Tông, người đã có công chiêu dân lập ấp, xây dựng căn cứ địa Văn Lâm làm hậu cứ để chống giặc Nguyên Mông lần thứ hai vào năm 1285.

Lễ hội đền Thái Vi hiện nay do UBND huyện Hoa Lư tổ chức. Đền Thái Vi nằm trong quần thể khu du lịch Tam Cốc - Bích Động nên được nhiều du khách biết đến. Đây cũng là một thế mạnh để phát huy giá trị văn hoá của di tích.

Phần lễ gồm: Rước kiệu và tế lễ cổ truyền.
Phần hội gồm các trò vui chơi giải trí: múa rồng, múa lân, đánh cờ người, đấu vật, bơi thuyền...

Lễ hội đền Thượng thờ Công chúa nước Lào

Tháng 3 – Tháng của Lễ hội Ninh Bình 3

Lễ hội truyền thống tại đền Thượng, xã Sơn Lai, huyện Nho Quan nhằm tưởng nhớ công ơn của công chúa nước Lào là Nhồi Hoa, nhân dân còn gọi là Nhồi Hao. Dưới thời Vua Lê Thánh Tông (hiệu Hồng Đức (1460-1497)), Bà được vua cha giao trách nhiệm đưa sang và huấn luyện một đàn voi cho Đại Việt. Khi giao xong đàn voi, trên đường trở về không may công chúa bị lâm bệnh. Binh lính đi theo phải hạ trại, đóng hai đồn thành dinh lũy tại đồi Đền và đồi Đập lo thuốc thang cho bà. Sau một thời gian điều trị, công chúa được các thái y chăm sóc thuốc thang, hết lòng cứu chữa nhưng bệnh tình không thuyên giảm, công chúa qua đời tại trại đóng trên đồi Đền. Sứ giả báo về triều đình Đại Việt, vua Lê Thánh Tông cho quân thần về làm lễ, an táng tại khu vực đồi Đền, xây khu lăng mộ và cho lập đền thờ công chúa ngay tại đó. Sau đó, nhà vua cho người sang nước Lào báo tin. Triều đình Lào liền chạm ảnh công chúa trên gỗ và đưa sang nơi Bà mất làm lễ viếng đồng thời cũng là để lưu niệm tình đoàn kết giữa hai nước Việt – Lào. Lễ hội diễn ra vào ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch hàng năm gồm có tế lễ, rước kiệu quanh làng còn nhiều trò chơi dân gian như: Chọi gà, đấu vật, kéo co, cờ người... Đặc biệt có múa hát theo điệu Lam Vông (điệu múa hát cổ truyền của nước Lào) để tưởng nhớ về công lao của công chúa Nhồi Hoa và bảo tồn và tôn vinh truyền thống tốt đẹp hai dân tộc Việt - Lào.

Lễ hội truyền thống Cố đô Hoa Lư

Tháng 3 – Tháng của Lễ hội Ninh Bình 4

Đây là lễ hội lớn nhất của tỉnh Ninh Bình, được tổ chức thường niên với quy mô lớn. Lễ hội được tổ chức nhằm tưởng nhớ, tôn vinh công lao to lớn của vị anh hùng dân tộc Đinh Tiên Hoàng đã có công thu phục 12 sứ quân, thống nhất đất nước, lập nên Nhà nước Đại Cồ Việt - nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên của Việt Nam và các bậc tiền nhân có công với đất nước được thờ tại Khu di tích lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lư.

Hàng năm, cứ vào dịp lễ hội (từ 8-12/3 âm lịch), người dân Ninh Bình cũng như du khách trong và ngoài nước lại náo nức về với Cố đô trẩy hội, người người đến với lễ hội vừa như tìm lại mình và cũng là để đổi mới mình thông qua việc thưởng thức, cảm nhận những hình thái văn hoá lễ hội.

Phần lễ tại lễ hội truyền thống Cố đô Hoa Lư thường có lễ dâng hương (được tổ chức vào chiều ngày 7/3 ÂL- trước ngày khai mạc lễ hội), lễ rước nước (vào buổi sáng sớm ngày khai hội), tế nam quan, tế nữ quan tại 2 đền trong suốt thời gian diễn ra lễ hội... Phần hội gồm các hoạt động văn hoá như sân khấu hoá Đinh Bộ Lĩnh cờ lau tập trận, trống hội Hoa Lư, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, thả rồng bay, múa rồng, thi Mâm ngũ quả tiến vua, thi Thư pháp, thi Giọng hát chèo hay, thi Người đẹp văn hoá lễ hội, múa rối nước...; các hoạt động giao lưu văn hoá văn nghệ như hát dân ca quan họ (của Bắc Ninh), trống hội Thăng Long (của Hà Nội), chương trình “Hội làng văn hoá”, chương trình “Lá thư âm nhạc”; các hoạt động thể dục thể thao như cờ người, cờ tướng, đấu vật, bóng chuyền và các hoạt động văn hoá thể thao dân tộc khác.

Bên cạnh những nghi lễ, những hội thức dân gian truyền thống, trong mấy năm gần đây, tại Lễ hội truyền thống Cố đô Hoa Lư đã xuất hiện những hội thức mới, rất được người dân quan tâm, hưởng ứng.

Sự đổi mới nội dung lễ hội truyền thống là rất khó khăn, nhất là đối với một lễ hội truyền thống có từ lâu đời, đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân địa phương. Song, thật bất ngờ, chính những nét mới của Lễ hội truyền thống Cố đô Hoa Lư lại có hiệu quả cao, có sức hấp dẫn mạnh mẽ, thu hút ngày càng đông đảo khách thập phương về trẩy hội. Nhưng, không vì thế mà những nét văn hoá lễ hội dân gian bị mai một hoặc coi nhẹ.

Có thể kể đến một vài hội thức mới tiêu biểu tại Lễ hội truyền thống Cố đô Hoa Lư như:

- Các cuộc thi tài, nhằm phát hiện, khuyến khích những tài năng, những hạt nhân tiêu biểu. Đó là các cuộc thi Thư pháp, thi giọng hát chèo hay, mâm ngũ quả tiến vua, Làng vui chơi, làng ca hát. Và tiêu biểu gần đây là cuộc thi “Người đẹp Văn hoá Lễ hội Hoa Lư”.

Có thể nói, đây cũng là một hình thức khai thác, phát huy, bảo tồn những giá trị văn hoá dân gian vốn có của địa phương. Xuất phát từ tích cổ: Ưu Bà Phạm Thị Trân hát chèo cho quân lính của nhà vua nghe và truyền dạy loại hình nghệ thuật này cho quân lính và nhân dân địa phương, cuộc thi “Giọng hát chèo hay” là để lựa chọn những giọng ca chèo đặc sắc của vùng quê vốn là “đất chèo” này.

Cuộc thi “Người đẹp Văn hoá Lễ hội Hoa Lư” cũng là để tìm ra những “bông hoa thơm” của đất Tràng An thanh lịch.
- Các hoạt động văn hoá, nghệ thuật đặc sắc: Hội trại văn hoá dân tộc; Múa rối nước (đây là loại hình nghệ thuật rất được du khách trong nước và nước ngoài yêu thích); …
- Các hoạt động dịch vụ mới: Hội chợ thương mại; Triển lãm ảnh, hiện vật bảo tàng về Cố đô Hoa Lư; trưng bày quảng bá du lịch và các hoạt động dịch vụ khác.
- Các hoạt động thể thao: Bóng chuyền, bắn nỏ…

Có thể khẳng định những nét văn hoá lễ hội mới tại Lễ hội truyền thống Cố đô Hoa Lư trong thời gian gần đây đã góp phần tích cực trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục văn hoá lễ hội dân gian, nhất là đối với lớp trẻ. Trong xu thế hội nhập hiện nay, việc đưa những nét văn hoá mới vào lễ hội truyền thống là một việc rất có ý nghĩa, nó là yếu tố có sức hấp dẫn thu hút lớp trẻ đến với lễ hội, là cầu nối đưa các thế hệ con cháu đến với những nét văn hoá dân gian truyền thống của lễ hội. Nói cách khác, lễ hội là hình thức giáo dục cộng đồng mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần tích cực vào công tác xã hội hoá các hoạt động văn hoá ở Ninh Bình.

Nói đến lễ hội, người ta nghĩ ngay đến chức năng văn hoá, đó là sự bảo lưu, duy trì bản sắc văn hoá của quê hương, của mỗi làng quê. Song, qua quá trình phát triển, một chức năng khác của lễ hội được thừa nhận, đó là chức năng kinh tế. Lễ hội ở Ninh Bình cũng không nằm ngoài quy luật phát triển ấy, và trong xu thế hiện nay, chức năng kinh tế của lễ hội càng được thể hiện rõ ràng hơn. Có thể lý giải đôi chút về chức năng kinh tế của lễ hội như:
- Trước hết, lễ hội truyền thống phản ánh đời sống vật chất: về mức sinh hoạt, mối tương quan các tầng lớp nhân dân trong xã hội nói chung, ở địa phương nói riêng. (Thể hiện qua các đồ tế lễ, trang phục, nghi thức, sinh hoạt nói chung).
- Ngày nay, trong thời kỳ kinh tế thị trường phát triển, hội nhập và mở cửa thì mỗi lễ hội cũng chính là một trung tâm có thể thu hút những hoạt động kinh tế (kinh doanh, sản xuất, dịch vụ thương mại...).
- Thông qua lễ hội (nhất là các lễ hội lớn) thu hút đông đảo quần chúng nhân dân, du khách trong và ngoài nước về dự. Đây là cơ hội để địa phương quảng bá du lịch, thu hút các nguồn đầu tư lâu dài...

Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là vô cùng quan trọng cả trước mắt và lâu dài. Nhiều địa phương trong cả nước đang sưu tầm, nghiên cứu để khôi phục các lễ hội dân gian cổ truyền. Đây cũng là một công việc có ý nghĩa to lớn, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá của cộng đồng, của dân tộc.

Để có những định hướng tốt và giữ gìn, phát huy tinh hoa lễ hội truyền thống, ngành Văn hoá Thông tin Ninh Bình đã tiến hành nghiên cứu những đề tài về lễ hội trong chương trình “Bảo tồn các giá trị văn hoá phi vật thể” của Bộ Văn hoá - Thông tin. Đó là các đề tài: “Lễ hội truyền thống Cố đô Hoa Lư”; “Lễ hội Báo Bản làng Nộn Khê xã Yên Từ, huyện Yên Mô”.
Bên cạnh đó, cũng có những đề tài về bảo tồn những hoạt động văn hoá mà đã, đang và sẽ là thế mạnh tại các lễ hội truyền thống ở Ninh Bình, như: Đề tài “Chiếu chèo huyện Yên Khánh”; Đề tài “Vũ hội trống ở xã Khánh Tiên” (huyện Yên Khánh)...

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Văn hoá – Du lịch thời gian tới là việc nghiên cứu, phát huy các giá trị văn hoá phi vật thể của địa phương gắn với phát triển du lịch bền vững. Trong đó, việc khôi phục, giữ gìn, phát huy văn hoá lễ hội truyền thống là nội dung được chú trọng, quan tâm và đầu tư thường niên.

Tin bài: Nguyễn Vân