Ở Việt Nam loại hình hành hương, du lịch về nguồn đã và đang trở nên phổ biến góp phần  bồi đắp, hình thành và hướng con người đến cái chân, thiện, mỹ... Ninh Bình – vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi sinh Vua, sinh Thánh, sinh Thần. Nơi có những ngôi chùa nổi tiếng như: Núi chùa Bái Đính được gắn liền với nhiều giai thoại và huyền thoại về một vị Thiền sư danh tiếng của nước Nam - Lý triều quốc sư Nguyễn Minh Không, ngài chính là người đã đặt nền móng, xây dựng tượng Phật và khai mở miền đất Phật; nơi có chùa Bích Động được chúa Trịnh Sâm vinh danh là  “Nam Thiên đệ nhị động” (động đẹp thứ nhì trời Nam); Chùa và động Địch Lộng, thờ thánh Nguyễn Minh Không, xã Gia Thanh (Động Địch Lộng được vua Minh Mạng ban cho 5 chữ vinh danh là “Nam Thiên đệ tam động” (động đẹp thứ 3 trời Nam)…Các chùa ở Ninh Bình không chỉ nổi tiếng là có lịch sử lâu đời, có kiến trúc tiêu biểu và đồ sộ mà còn đặc sắc ở không gian xanh và thiên nhiên hùng vĩ, trong lành.

 

Nhân kỷ niệm lễ Phật đản 2020 (PL.2564 ), đến với Ninh Bình, vùng đất Phật với không gian thiên nhiên, yên bình, sơn thủy hữu tình mà đôi điều nhớ về một số loại cây trong Phật giáo: Trong kinh điển Phật giáo, có ba loài cây thiêng liên quan đến cuộc đời của đức Phật là cây Vô ưu (Saraca indica) khi đức Phật đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni, cây Bồ đề (Ficus religiosa, Bodhi) khi đức Phật thành đạo tại Bồ Đề Đạo Tràng và cây Sa la khi đức Phật nhập Niết bàn tại Câu Thi Na

Cây Vô ưu: Truyền thuyết kể rằng Đức Phật được mẹ hoàng hậu Maya, sinh ra dưới gốc cây vô ưu. Khi bà đang lên cơn đau thì một cành cây chìa ra cho bà nắm lấy.

- Vô ưu sống ở rừng mưa có nguồn gốc từ trung tâm của cao nguyên Deccan và vùng ven biển Ấn Độ. Cây vô ưu được ưa chuộng vì tán lá đẹp, hoa đẹp mọc thành chùm và tỏa hương thơm. Cây vô ưu hoang dã dễ bị tổn thương nên càng trở nên hiếm hơn trong môi trường sống tự nhiên của nó.

Cây sala: Nơi Đức Phật nhập niết bàn là một rừng cây sala. Cây sala có tên gọi khác là tha la. Tên khoa học là Shorea robusta. Tên thông dụng trong tiếng Anh là shala hay sal. Và những người Ấn Độ đều biết rành cây sala, họ gọi là "sal tree", vì loại cây đó được trồng thành rừng, có thân thẳng, thịt gỗ cứng, rất thích hợp cho việc xây dựng và đóng bàn ghế.

- Cây Sa la có nguồn gốc từ vùng tiểu lục địa Ấn Độ, vùng phía nam dãy núi Himalaya từ Myanmar đến Nepal, Ấn Độ và Bangladesh. Có nhiều vùng rừng Sa la rất lớn ở các khu vực này. Sa la là loài cây sinh trưởng trung bình cho đến chậm. Nó có thể đạt chiều cao 30-35 m, đường kính thân cây lên đến 2.5 m. Lá dài 10-25 cm và rộng 5-15 cm. Ở vùng ẩm ướt Sa la xanh lá quang năm, cây sala phân bố ở vùng khô thì rụng lá vào khoảng thời gian từ tháng Hai đến tháng Tư và ra lá trở lại vào tháng Tư đến tháng Năm.

Cây bồ đề: Cây Bồ đề có tên khoa học là Ficus religiosa, theo các điển tích về Phật giáo, cây Bồ đề đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời Đức Phật. Đức Phật đã ngồi thiền định dưới gốc cây Bồ đề và từng bước giác ngộ được các giáo lý của Phật giáo.

 

Ngoài ra một số loài cây khác gắn liền với Nhà Phật như:

- Tu viện Phật giáo đầu tiên là khu rừng Tre, do vua Bimbisara cúng dường.

- Tăng đoàn thường an cư trong rừng, chẳng hạn khu rừng Xoài của y sĩ Jivaka.

- Một số loại cây cung cấp thực phẩm và dược liệu cho Bụt và các vị khất sĩ theo Ngài.

- Chúng ta cũng nhớ đến bó cỏ kusa Bụt dùng để trải toạ cụ ngồi trước khi thành Đạo. Cỏ kusa (hay kusha) còn có tên là Durba (Darbha) hay halfa, tên khoa học là Eragrostis cynosuroides hay còn gọi là Desmostachya bipinnata, có thể cao từ đến 50-100cm, thường được dùng để dệt chiếu. (Tự điển Phật Học của Trần Nguyên Trung gọi là Kosa S) hay Kosajja (P) có thể không đúng vì Kosajja có nghĩa là dãi đãi.) Cỏ kusa tên Việt Nam có lẽ là cỏ cói (dùng vì cả hai đều có mùi thơm như sả, chiều cao và công dụng cũng tương đương.

- Còn nhiêu loại cây khác cũng gắn bó cuộc đời Đức Phật đã theo các thương nhân và tu sĩ Ấn Độ du nhập vào nước ta khoảng đầu thế kỷ thứ 2 như cây bông sen, cây hoa lài, cây mít. Theo GS Trần Quốc Vượng, cây bông sen (Nelumbo nucifera, họ Nelumbonaceae) là phiên âm từ tên tiếng Phạn sengora (người Nhật gọi bông sen là sengo); cây hoa lài (ban đầu gọi là m-lai) là từ tên malika (Tàu gọi là Mạt Lị Hoa); cây mít là từ tên paramita (Tàu gọi mít là trái Ba La Mật.) Tên phiên âm của các cây này đã được Việt hoá, trở nên gần gũi thân thương, khiến chúng ta.

- một loài cây chúng ta nghe nhiều nhưng chưa tìm hiểu được nhiều: cây Banyan, nơi đức Phật ngồi còn được biết với tên ‘ajapalanigrodha’, ‘ajapala’ có nghĩa là ‘chỗ của những người chăn dê’‘nigrodha’ có nghĩa là ‘câyBanyna.’ Theo truyền thuyết, cây đa này là nơi những người chăn dê trong vùng thường ngồi nghỉ trong khi thả cho bầy dê ăn cỏ. Cây banyan theo hình dạng và cách đâm rễ (thòng xuống từ thân) có lẽ chính là cây đa.

          Ngoài ra theo quan niệm của Phật giáo, ươm cây, trồng cây cũng như nuôi dưỡng con người, bảo vệ nguồn sống, bảo vệ môi trường đều là làm theo giáo lý nhà Phật. Chính vì vậy các loài cây xanh đều cần được trân trọng, bảo vệ. Đến với du lịch tâm linh Ninh Bình là đến với du lịch xanh, du lịch về nguồn mà đã, đang và sẽ là nơi mong tới, chốn tìm về của đông đảo Phật tử và du khách thập phương.

Tin bài: Nguyễn Vân